Hệ số Beta ngành quý II năm 2014

15:04-06/11/2015
Tính đến ngày 30/06/2014, thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) có 738 công ty niêm yết, trong đó chỉ có 379 mã chứng khoán có đủ điều kiện để tính Beta ngành.
Trong Quý 2/2014, TTCK có nhiều biến động mạnh mẽ. Nửa đầu quý 2, thị trường lao dốc mạnh và trong nửa cuối quý đã có sự phục hồi nhẹ, tuy nhiên kết thúc quý 2, chỉ số VN-Index giảm 2,27% xuống mức 578,13 điểm và HNX-Index giảm 12,87% xuống mức 77,93 điểm so với cuối quý 1/2014. Nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm mạnh này là do việc bán chốt lời, cắt lỗ của giới nhà đầu tư nước ngoài; căng thẳng trên biển Đông và diễn biến bất thường của thị trường ngoại hối, thị trường vàng làm một lượng vốn lớn bị rút khỏi TTCK.

 

Đây cũng là những yếu tố tác động đến kết quả hệ số beta ngành quý 2/2014, cụ thể: so với quý 1/2014, trong quý 2/2014, 29/30 ngành có hệ số beta giảm (32%-87%) và 1/30 ngành có hệ số beta không đổi là ngành Hoạt động xuất bản. Những ngành có hệ số beta giảm mạnh trên 80% có thể kể đến: ngành Sản xuất kim loại, ngành Hoạt động dịch vụ khác chưa được phân vào đâu (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội), ngành Hoạt động kinh doanh bất động sản và ngành Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê.
Đối với ngành Hoạt động tài chính (Bảo hiểm, Chứng khoán, Ngân hàng, Bất động sản) là nhóm ngành nhạy cảm với các biến động của nền kinh tế, trong quý 2/2014 có sự điều chỉnh lớn về hệ số beta ngành theo hướng sụt giảm mạnh, cụ thể: ngành Hoạt động dịch vụ tài chính (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội) (0,30), ngành Hoạt động tài chính khác (0,33) là 2 ngành có mức giảm beta ngành thấp nhất trong nhóm (69%). Các ngành khác trong nhóm đều có mức giảm lớn từ 71%-87%.
Theo quan sát cho thấy, nền kinh tế quý 2/2014 có nhiều biến động và đã phục hồi dần vào nửa cuối quý nhờ một số thông tin tích cực về mặt bằng lãi suất huy động ngắn hạn, tăng trưởng GDP, và dự báo tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian tới. Các thông tin này đã ảnh hưởng tích cực đến tâm lý của các nhà đầu tư, giúp TTCK phục hồi dần sau phiên giao dịch sụt giảm kỷ lục trong suốt 14 năm mở cửa (phiên ngày 16/4). Những biến động trong quý 2/2014 đã tác động rất lớn đến kết quả hệ số beta ngành. Tuy nhiên do số lượng các ngân hàng, công ty niêm yết đủ điều kiện để tính hệ số beta ngành vẫn giới hạn nên vẫn chưa thể nói hệ số beta ngành hoạt động dịch vụ tài chính phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro của các công ty trong ngành.
 
 
Ghi chú:
1)  Hệ số beta ngành được tính theo phương pháp Full Information Beta
2)  Dữ liệu tính beta được thu thập từ Reuter và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
3)  Hệ thống ngành được phân loại theo hướng dẫn tại quyết định 337/QĐ-BKH
4)  Hệ số beta ngành trong báo cáo này chỉ có tính chất tham khảo.
 
Hệ số beta và hệ số beta ngành:
Hệ số beta thể hiện mức độ biến động của tỷ suất sinh lời của cổ phiếu so với mức độ biến động tỷ suất sinh lời của thị trường. Hệ số beta càng lớn thì mức độ biến động giá của cổ phiếu càng lớn, rủi ro càng lớn. Hệ số beta nhỏ hơn 1 có nghĩa là giá của cổ phiếu ít biến động hơn so với thị trường. 
Ví dụ: Hệ số beta của một cổ phiếu là 1.2, nếu chỉ số của thị trường (ví dụ: VN Index) tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu có thể được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 12%. Với hệ số beta của một cổ phiếu là 0.8, nếu chỉ số thị trường tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu đó được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 8%.
Hệ số beta ngành có thể so sánh mức độ rủi ro của các công ty trong ngành công nghiệp đó với thị trường. Hệ số beta ngành có thể được dùng thay thế cho hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành trong một số trường hợp phản ánh chính xác sự biến động của cổ phiếu hơn là hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành còn có ích khi áp dụng cho những công ty vừa mới niêm yết chưa có số liệu lịch sử. Hệ số beta ngành còn được dùng để dự báo mức độ rủi ro cho các công ty trong tương lai. Số lượng và tỷ trọng doanh thu của công ty hoạt động trong một ngành càng lớn thì mức độ tin tưởng của hệ số beta của ngành công nghiệp đó càng cao.
Điều kiện tính hệ số beta của Việt Nam còn một số hạn chế như: số lượng công ty tham gia vào thị trường chứng khoán nhỏ, nhiều ngành có số lượng công ty đại diện rất ít, dữ liệu lịch sử về giá ngắn, thông tin về của các công ty hoạt động trong từng ngành không được cập nhật thường xuyên và đầy đủ. Do các đặc điểm trên, hệ số beta ngành của Việt Nam có thể chưa phản ánh được đúng mức độ rủi ro của các công ty trong ngành. Điều này sẽ được cải thiện khi TTCK phát triển hơn.
Nhóm nghiên cứu - Phòng Giám sát