Hệ số Beta ngành quý III năm 2014

15:16-06/11/2015
Tính đến ngày 30/09/2014, thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) có 879 công ty niêm yết, trong đó chỉ có 398 mã chứng khoán có đủ điều kiện để tính Beta ngành.
Trong quý 3/2014, TTCK có khá nhiều biến động. Thị trường tăng trưởng nhanh trong gần hết quý, chỉ số VN-Index gần chạm đến mức 645 điểm và sụt giảm mạnh vào 2 tuần cuối cùng của quý do hàng loạt cú xả hàng của các bên nắm giữ, gây tác động lớn đến tâm lý chung trên toàn thị trường.
Kết thúc quý 3, chỉ số VN-Index giữ ở mức 598,8 điểm, tăng 3,58% và HNX-Index ở mức 88,63 điểm, tăng 13,73% so với cuối quý 2. Tuy nhiên, thanh khoản thị trường vẫn ở mức cao cho thấy dòng tiền vẫn đang ở lại trên thị trường, đồng thời đem lại hy vọng thị trường sẽ khởi sắc vào quý 4.
Biến động trên thị trường đã tác động mạnh mẽ đến kết quả hệ số beta ngành quý 3/2014. Cụ thể, so với quý 2/2014, trong quý 3/2014 có 21 ngành có hệ số beta tăng mạnh.  Và những ngành có hệ số beta tăng trên 500% lần lượt là: ngành Khai thác quặng kim loại (571%), ngành Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (629%), ngành Vận tải đường sắt, đường bộ và vận tải đường ống (511%), ngành Hoạt động quỹ tín thác, các quỹ và các tổ chức tài chính khác (672%).
Các nhóm ngành nhạy cảm với các biến động như Hoạt động tài chính (Bảo hiểm, Chứng khoán, Ngân hàng, Bất động sản) trong quý 3/2014 cũng có sự điều chỉnh lớn về hệ số beta ngành, trong đó tăng mạnh nhất là ngành Hoạt động quỹ tín thác, các quỹ và các tổ chức tài chính khác (đây cũng là ngành có mức tăng hệ số beta mạnh nhất trong 30 mã ngành), mức tăng thấp nhất là 286% của ngành Hoạt động tài chính khác.
Theo quan sát cho thấy, nền kinh tế quý 3/2014 tiếp tục khởi sắc, tín dụng tăng trưởng tốt, lạm phát, mặt bằng lãi suất đều được duy trì ở mức thấp. Tuy nhiên, thị trường vẫn chịu ảnh hưởng lớn của hiệu ứng đám đông dẫn đến sụt giảm vào phần cuối quý 3. Những thông tin, biến động này tác động rất lớn đến kết quả hệ số beta ngành. Bên cạnh đó, do số lượng các ngân hàng và công ty niêm yết đủ điều kiện để tính hệ số beta ngành còn giới hạn nên chưa thể kết luận hệ số beta ngành nói chung và hệ số beta ngành hoạt động tài chính phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro của các công ty trong ngành.
 

Ghi chú:
1)      Hệ số beta ngành được tính theo phương pháp Full Information Beta
2)      Dữ liệu tính beta được thu thập từ Reuter và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
3)      Hệ thống ngành được phân loại theo hướng dẫn tại quyết định 337/QĐ-BKH
4)      Hệ số beta ngành trong báo cáo này chỉ có tính chất tham khảo.
 
Hệ số beta và hệ số beta ngành:
Hệ số beta thể hiện mức độ biến động của tỷ suất sinh lời của cổ phiếu so với mức độ biến động tỷ suất sinh lời của thị trường. Hệ số beta càng lớn thì mức độ biến động giá của cổ phiếu càng lớn, rủi ro càng lớn. Hệ số beta nhỏ hơn 1 có nghĩa là giá của cổ phiếu ít biến động hơn so với thị trường.  
Ví dụ: Hệ số beta của một cổ phiếu là 1.2, nếu chỉ số của thị trường (ví dụ: VN Index) tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu có thể được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 12%. Với hệ số beta của một cổ phiếu là 0.8, nếu chỉ số thị trường tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu đó được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 8%. 
Hệ số beta ngành có thể so sánh mức độ rủi ro của các công ty trong ngành công nghiệp đó với thị trường. Hệ số beta ngành có thể được dùng thay thế cho hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành trong một số trường hợp phản ánh chính xác sự biến động của cổ phiếu hơn là hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành còn có ích khi áp dụng cho những công ty vừa mới niêm yết chưa có số liệu lịch sử. Hệ số beta ngành còn được dùng để dự báo mức độ rủi ro cho các công ty trong tương lai. Số lượng và tỷ trọng doanh thu của công ty hoạt động trong một ngành càng lớn thì mức độ tin tưởng của hệ số beta của ngành công nghiệp đó càng cao. 
Điều kiện tính hệ số beta của Việt Nam còn một số hạn chế như: số lượng công ty tham gia vào thị trường chứng khoán nhỏ, nhiều ngành có số lượng công ty đại diện rất ít, dữ liệu lịch sử về giá ngắn, thông tin về của các công ty hoạt động trong từng ngành không được cập nhật thường xuyên và đầy đủ. Do các đặc điểm trên, hệ số beta ngành của Việt Nam có thể chưa phản ánh được đúng mức độ rủi ro của các công ty trong ngành. Điều này sẽ được cải thiện khi TTCK phát triển hơn.

 

Nhóm nghiên cứu - Phòng Giám sát