Hệ số Beta ngành quý IV năm 2014 và quý I năm 2015

15:32-06/11/2015
Tính đến ngày 31/03/2015, thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) có 902 công ty niêm yết, trong đó chỉ có 430 mã chứng khoán có đủ điều kiện để tính Beta ngành.
Trong quý 1/2015, TTCK biến động tăng giảm bất thường. Kết thúc quý 1/2015, chỉ số VN-Index đạt mức 551,1 điểm, tăng 1%, chỉ số HNX-Index đạt mức 82,3 điểm, giảm 0,8% so với quý 4/2014. Các cổ phiếu Ngân hàng và Dầu khí là các cổ phiếu biến động mạnh, ảnh hưởng lớn tới chỉ số Vn-Index. Thanh khoản thị trường sụt giảm, bình quân 3 tháng quý 1/2015 đạt 2.263 tỷ/phiên, giảm 28,7% so với cùng kỳ năm 2014.
Biến động trên thị trường tác động đến kết quả hệ số beta ngành quý 1/2015, cụ thể: so với quý 4/2014, trong quý 1/2015, có 11 ngành có hệ số beta tăng và 12 ngành có hệ số beta giảm. Các ngành có mức tăng hệ số beta mạnh nhất là ngành Hoạt động tài chính khác (tăng 34%), ngành Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (tăng 33%) và ngành Vận tải đường thủy (tăng 24%). Ngành có mức giảm hệ số beta mạnh nhất là ngành Kho bãi và các hoạt động hỗ trợ cho vận tải (giảm 30%).
Các nhóm ngành về hoạt động tài chính vốn nhạy cảm với biến động (Bảo hiểm, Chứng khoán, Ngân hàng, Bất động sản) trong quý 1/2015 cũng điều chỉnh khá mạnh so với quý 4/2014. Cụ thể, ngành Hoạt động tài chính khác có mức tăng 34% (hệ số beta mạnh nhất trong các mã ngành). Các ngành Bảo hiểm, tái bảo biểm và bảo hiểm xã hội (trừ bảo đảm xã hội bắt buộc), ngành Hoạt động kinh doanh bất động sản, ngành Hoạt động dịch vụ tài chính (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội) đều có hệ số beta giảm theo các mức lần lượt là 19%, 10% và 5%.
Tuy nhiên, do số lượng các ngân hàng, công ty niêm yết có đủ điều kiện để tính hệ số beta ngành còn giới hạn nên vẫn chưa thể kết luận hệ số beta ngành nói chung và hệ số beta ngành hoạt động tài chính phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro của các công ty trong ngành.
 
 

Ghi chú:
Hệ số beta ngành được tính theo phương pháp Full Information Beta
Dữ liệu tính beta được thu thập từ Reuter và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Hệ thống ngành được phân loại theo hướng dẫn tại quyết định 337/QĐ-BKH
Hệ số beta ngành trong báo cáo này chỉ có tính chất tham khảo.

Hệ số beta và hệ số beta ngành:
Hệ số beta thể hiện mức độ biến động của tỷ suất sinh lời của cổ phiếu so với mức độ biến động tỷ suất sinh lời của thị trường. Hệ số beta càng lớn thì mức độ biến động giá của cổ phiếu càng lớn, rủi ro càng lớn. Hệ số beta nhỏ hơn 1 có nghĩa là giá của cổ phiếu ít biến động hơn so với thị trường. 
Ví dụ: Hệ số beta của một cổ phiếu là 1.2, nếu chỉ số của thị trường (ví dụ: VN Index) tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu có thể được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 12%. Với hệ số beta của một cổ phiếu là 0.8, nếu chỉ số thị trường tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu đó được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 8%.
Hệ số beta ngành có thể so sánh mức độ rủi ro của các công ty trong ngành công nghiệp đó với thị trường. Hệ số beta ngành có thể được dùng thay thế cho hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành trong một số trường hợp phản ánh chính xác sự biến động của cổ phiếu hơn là hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành còn có ích khi áp dụng cho những công ty vừa mới niêm yết chưa có số liệu lịch sử. Hệ số beta ngành còn được dùng để dự báo mức độ rủi ro cho các công ty trong tương lai. Số lượng và tỷ trọng doanh thu của công ty hoạt động trong một ngành càng lớn thì mức độ tin tưởng của hệ số beta của ngành công nghiệp đó càng cao.
Điều kiện tính hệ số beta của Việt Nam còn một số hạn chế như: số lượng công ty tham gia vào thị trường chứng khoán nhỏ, nhiều ngành có số lượng công ty đại diện rất ít, dữ liệu lịch sử về giá ngắn, thông tin về của các công ty hoạt động trong từng ngành không được cập nhật thường xuyên và đầy đủ. Do các đặc điểm trên, hệ số beta ngành của Việt Nam có thể chưa phản ánh được đúng mức độ rủi ro của các công ty trong ngành. Điều này sẽ được cải thiện khi TTCK phát triển hơn.
Nhóm nghiên cứu - Phòng Giám sát