Hệ số beta ngành quý IV năm 2015

16:21-13/06/2016
Tính đến ngày 31/12/2015, thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) có 943 công ty niêm yết, trong đó chỉ có 432 mã chứng khoán có đủ điều kiện để tính Beta ngành.
Sau khi tổng hợp và xử lý dữ liệu đưa đến kết quả như trên, chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét như sau: 
Trong quý 4/2015, TTCK Việt Nam có nhiều biến động mạnh mẽ. Trong khoảng nửa đầu quý, thị trường trở lại xu hướng tăng điểm, Vnindex đạt đỉnh 617 điểm nhờ các tác động tích cực của thông tin Nghị định 60 không giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và việc Việt Nam và 11 đối tác đã kết thúc đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tuy nhiên sau đó, thị trường bắt đầu xu hướng điều chỉnh giảm với thanh khoản thấp, các thông tin về việc FED nâng lãi suất và sự trượt dốc của giá dầu thô tác động tiêu cực đến cả thị trường.
 
Kết thúc quý 4/2015, chỉ số VN-Index ở mức 579 điểm, tăng 2,97% và HNX-Index ở mức 79,96 điểm, tăng 3,79% so với cuối quý 3/2015. Thanh khoản trên thị trường ở mức trung bình.
 
Sự biến động này của thị trường tác động mạnh mẽ đến kết quả hệ số beta ngành quý 4/2015. Cụ thể, so với quý 3/2015, có 10/14 mã ngành có hệ số beta tăng và 3 mã ngành có hệ số beta giảm. Trong đó, ngành Sản xuất xe có động cơ là ngành có mức tăng beta ngành mạnh nhất (từ mức 0,09 cuối quý 3/2015 lên 1,603 cuối quý 4/2015). 3 ngành có hệ số beta ngành giảm là ngành Sản xuất chế biến thực phẩm, Bán buôn (trừ ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác) và Hoạt động kinh doanh bất động sản.
 
Đối với nhóm ngành Hoạt động tài chính (Bảo hiểm, Chứng khoán, Ngân hàng, Bất động sản) là nhóm ngành rất nhạy cảm với các biến động, vì thế trong quý 4/2015 cũng có biến động mạnh về hệ số beta ngành. Cụ thể trong các ngành thuộc nhóm này, ngành Bảo hiểm, tái bảo hiểm và bảo hiểm xã hội (trừ bảo đảm xã hội bắt buộc) là ngành có hệ số beta ngành cao nhất ở mức 0,917, ngành có hệ số beta ngành thấp nhất là ngành Hoạt động kinh doanh bất động sản (0,105).
 
Theo quan sát cho thấy, nền kinh tế quý 4/2015 chịu nhiều tác động từ các diễn biến của Hiệp định TPP, việc tăng lãi suất của FED và sự sụt giảm của giá dầu. Những thông tin, biến động này tác động rất lớn đến kết quả hệ số beta ngành. Tuy nhiên, do số lượng các ngân hàng, công ty niêm yết có đủ điều kiện để tính hệ số beta ngành vẫn còn giới hạn nên vẫn chưa thể nói hệ số beta ngành nói chung và hệ số beta ngành hoạt động tài chính đã phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro của các công ty trong ngành.
 
 
Ghi chú:
1)    Hệ số beta ngành được tính theo phương pháp Full Information Beta
2)    Dữ liệu tính beta được thu thập từ Reuter và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
3)    Hệ thống ngành được phân loại theo hướng dẫn tại quyết định 337/QĐ-BKH
4)    Hệ số beta ngành trong báo cáo này chỉ có tính chất tham khảo.
 
Hệ số beta và hệ số beta ngành:
Hệ số beta thể hiện mức độ biến động của tỷ suất sinh lời của cổ phiếu so với mức độ biến động tỷ suất sinh lời của thị trường. Hệ số beta càng lớn thì mức độ biến động giá của cổ phiếu càng lớn, rủi ro càng lớn. Hệ số beta nhỏ hơn 1 có nghĩa là giá của cổ phiếu ít biến động hơn so với thị trường. 
 
Ví dụ: hệ số beta của một cổ phiếu là 1.2, nếu chỉ số của thị trường (ví dụ: VN Index) tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu có thể được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 12%. Với hệ số beta của một cổ phiếu là 0.8, nếu chỉ số thị trường tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu đó được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 8%.
Hệ số beta ngành có thể so sánh mức độ rủi ro của các công ty trong ngành công nghiệp đó với thị trường. Hệ số beta ngành có thể được dùng thay thế cho hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành trong một số trường hợp phản ánh chính xác sự biến động của cổ phiếu hơn là hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành còn có ích khi áp dụng cho những công ty vừa mới niêm yết chưa có số liệu lịch sử. Hệ số beta ngành còn được dùng để dự báo mức độ rủi ro cho các công ty trong tương lai. Số lượng và tỷ trọng doanh thu của công ty hoạt động trong một ngành càng lớn thì mức độ tin tưởng của hệ số beta của ngành công nghiệp đó càng cao.
 
Điều kiện tính hệ số beta của Việt Nam còn một số hạn chế như: số lượng công ty tham gia vào thị trường chứng khoán nhỏ, nhiều ngành có số lượng công ty đại diện rất ít, dữ liệu lịch sử về giá ngắn, thông tin về của các công ty hoạt động trong từng ngành không được cập nhật thường xuyên và đầy đủ. Do các đặc điểm trên, hệ số beta ngành của Việt Nam có thể chưa phản ánh được đúng mức độ rủi ro của các công ty trong ngành. Điều này sẽ được cải thiện khi TTCK phát triển hơn.
Nhóm nghiên cứu - Phòng Giám sát