Hệ số Beta ngành quý I năm 2016

16:33-13/07/2016
Để nâng cao chất lượng  và hiệu quả của việc tính và sử dụng kết quả hệ số Beta ngành theo phương pháp Full Information Beta, chúng tôi đã tiến hành thay đổi trong phương thức chọn và lọc dữ liệu để đưa ra những mã chứng khoán có đầy đủ 2 năm dữ liệu giá và đủ thông tin về ngành đăng tải trong bản cáo bạch.
Theo đó, tính đến ngày 31/03/2016, thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) có 963 công ty niêm yết, trong đó chỉ có 408 mã chứng khoán có đủ điều kiện để tính Beta ngành.
 
Sau khi tổng hợp và xử lý dữ liệu đưa đến kết quả như trên, chúng tôi xin nhận thấy: Hệ số beta của hầu hết các mã ngành trong quý 1/2016 không có ý nghĩa. Nguyên nhân của việc này là do số lượng các ngân hàng, công ty niêm yết có đủ điều kiện để tính hệ số beta ngành vẫn còn giới hạn nên hệ số beta ngành nói chung và hệ số beta ngành hoạt động tài chính không phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro của các công ty trong ngành và dẫn đến hệ số beta không có ý nghĩa.
 
 
Ghi chú:
1) Hệ số beta ngành được tính theo phương pháp Full Information Beta
2) Dữ liệu tính beta được thu thập từ Reuter và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
3) Hệ thống ngành được phân loại theo hướng dẫn tại quyết định 337/QĐ-BKH
4) Hệ số beta ngành trong báo cáo này chỉ có tính chất tham khảo.
 
Hệ số beta và hệ số beta ngành:
Hệ số beta thể hiện mức độ biến động của tỷ suất sinh lời của cổ phiếu so với mức độ biến động tỷ suất sinh lời của thị trường. Hệ số beta càng lớn thì mức độ biến động giá của cổ phiếu càng lớn, rủi ro càng lớn. Hệ số beta nhỏ hơn 1 có nghĩa là giá của cổ phiếu ít biến động hơn so với thị trường.
 
Ví dụ: hệ số beta của một cổ phiếu là 1.2, nếu chỉ số của thị trường (ví dụ: VN Index) tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu có thể được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 12%. Với hệ số beta của một cổ phiếu là 0.8, nếu chỉ số thị trường tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu đó được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 8%.
 
Hệ số beta ngành có thể so sánh mức độ rủi ro của các công ty trong ngành công nghiệp đó với thị trường. Hệ số beta ngành có thể được dùng thay thế cho hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành trong một số trường hợp phản ánh chính xác sự biến động của cổ phiếu hơn là hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành còn có ích khi áp dụng cho những công ty vừa mới niêm yết chưa có số liệu lịch sử. Hệ số beta ngành còn được dùng để dự báo mức độ rủi ro cho các công ty trong tương lai. Số lượng và tỷ trọng doanh thu của công ty hoạt động trong một ngành càng lớn thì mức độ tin tưởng của hệ số beta của ngành công nghiệp đó càng cao.
 
Điều kiện tính hệ số beta của Việt Nam còn một số hạn chế như: số lượng công ty tham gia vào thị trường chứng khoán nhỏ, nhiều ngành có số lượng công ty đại diện rất ít, dữ liệu lịch sử về giá ngắn, thông tin về của các công ty hoạt động trong từng ngành không được cập nhật thường xuyên và đầy đủ. Do các đặc điểm trên, hệ số beta ngành của Việt Nam có thể chưa phản ánh được đúng mức độ rủi ro của các công ty trong ngành. Điều này sẽ được cải thiện khi TTCK phát triển hơn.
Nhóm nghiên cứu - Phòng Giám sát