Hệ số beta ngành quý II năm 2016

14:16-06/10/2016

Tính đến ngày 30/06/2016, thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) có 1013 công ty niêm yết, trong đó chỉ có 507 mã chứng khoán có đủ điều kiện để tính Beta ngành.

Sau khi tổng hợp và xử lý dữ liệu đưa đến kết quả như trên, chúng tôi xin đưa ra kết luận sau:
Trong số 30 mã ngành có thể tính toán được hệ số beta ngành, có 17 ngành có hệ số beta dương (có biến động cùng chiều với VN-Index) và 13 ngành có hệ số beta âm (có biến động ngược chiều với VN-Index).
Ngành có hệ số beta lớn nhất là ngành Sản xuất kim loại, có beta ngành là 1,10 và ngành có hệ số beta nhỏ nhất là ngành Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu có beta ngành là -1,75. Đây cũng là 2 ngành có mức biến động lớn nhất so với mức biến động của VN-Index.
Đối với các ngành thuộc nhóm tài chính – ngân hàng, bao gồm ngành Hoạt động dịch vụ tài chính (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội), ngành Bảo hiểm, tái bảo hiểm và bảo hiểm xã hội (trừ bảo đảm xã hội bắt buộc), ngành Hoạt động tài chính khác và ngành Hoạt động kinh doanh bất động sản đều có mức biến động không phụ thuộc nhiều vào mức biến động của VN-Index. Cụ thể, ngành Bảo hiểm, tái bảo hiểm và bảo hiểm xã hội (trừ bảo đảm xã hội bắt buộc) có hệ số beta cao nhất trong nhóm là 0,33, tiếp theo là ngành Hoạt động dịch vụ tài chính (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội) có hệ số beta là 0,11, 2 ngành Hoạt động tài chính và Hoạt động kinh doanh bất động sản đều có hệ số beta âm và ở mức thấp lần lượt là -0,01 và -0,02.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, việc tính toán hệ số Beta ngành hiện tại chưa thực sự có ý nghĩa. Nguyên nhân của việc này là do số lượng các ngân hàng, công ty niêm yết có đủ điều kiện để tính hệ số beta ngành vẫn còn giới hạn nên hệ số beta ngành nói chung và hệ số beta ngành hoạt động tài chính chưa phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro của các công ty trong ngành.

STT

Tên ngành

Mã ngành

Beta ngành

1

Khai thác, nuôi trồng thủy sản

03

0,67

2

Khai khoáng khác

08

0,29

3

Sản xuất đồ uống

11

0,27

4

Sản xuất trang phục

14

0,50

5

Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan

15

-0,13

6

Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy

17

-0,03

7

Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu

21

-1,75

8

Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic

22

0,43

9

Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác

23

0,13

10

Sản xuất kim loại

24

1,10

11

Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế

31

0,18

12

Sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị

33

-0,02

13

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí

35

0,64

14

Xây dựng nhà các loại

41

0,02

15

Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng

42

-0,14

16

Hoạt động xây dựng chuyên dụng

43

-0,04

17

Vận tải đường sắt, đường bộ và vận tải đường ống

49

-0,20

18

Kho bãi và các hoạt động hỗ trợ cho vận tải

52

0,11

19

Dịch vụ lưu trú

55

-0,17

20

Dịch vụ ăn uống

56

0,07

21

Viễn thông

61

0,13

22

Lập trình máy vi tính, dịch vụ tư vấn và các hoạt động khác liên quan đến máy vi tính

62

-0,98

23

Hoạt động dịch vụ thông tin

63

0,23

24

Hoạt động dịch vụ tài chính (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội)

64

0,11

25

Bảo hiểm, tái bảo hiểm và bảo hiểm xã hội (trừ bảo đảm xã hội bắt buộc)

65

0,33

26

Hoạt động tài chính khác

66

-0,01

27

Hoạt động kinh doanh bất động sản

68

-0,02

28

Hoạt động kiến trúc; kiểm tra và phân tích kỹ thuật

71

0,02

29

Hoạt động dịch vụ lao động và việc làm

78

-0,13

30

Giáo dục và đào tạo

85

-0,05

 
Ghi chú:
1)    Hệ số beta ngành được tính theo phương pháp Full Information Beta
2)    Dữ liệu tính beta được thu thập từ Reuter và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
3)    Hệ thống ngành được phân loại theo hướng dẫn tại quyết định 337/QĐ-BKH
4)    Hệ số beta ngành trong báo cáo này chỉ có tính chất tham khảo.

 

Hệ số beta và hệ số beta ngành:
Hệ số beta thể hiện mức độ biến động của tỷ suất sinh lời của cổ phiếu so với mức độ biến động tỷ suất sinh lời của thị trường. Hệ số beta càng lớn thì mức độ biến động giá của cổ phiếu càng lớn, rủi ro càng lớn. Hệ số beta nhỏ hơn 1 có nghĩa là giá của cổ phiếu ít biến động hơn so với thị trường. 
Ví dụ: hệ số beta của một cổ phiếu là 1,2, nếu chỉ số của thị trường (ví dụ: VN Index) tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu có thể được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 12%. Với hệ số beta của một cổ phiếu là 0,8, nếu chỉ số thị trường tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu đó được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 8%.
Hệ số beta ngành có thể so sánh mức độ rủi ro của các công ty trong ngành công nghiệp đó với thị trường. Hệ số beta ngành có thể được dùng thay thế cho hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành trong một số trường hợp phản ánh chính xác sự biến động của cổ phiếu hơn là hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành còn có ích khi áp dụng cho những công ty vừa mới niêm yết chưa có số liệu lịch sử. Hệ số beta ngành còn được dùng để dự báo mức độ rủi ro cho các công ty trong tương lai. Số lượng và tỷ trọng doanh thu của công ty hoạt động trong một ngành càng lớn thì mức độ tin tưởng của hệ số beta của ngành công nghiệp đó càng cao.
Điều kiện tính hệ số beta của Việt Nam còn một số hạn chế như: số lượng công ty tham gia vào thị trường chứng khoán nhỏ, nhiều ngành có số lượng công ty đại diện rất ít, dữ liệu về giá còn thiếu, thông tin về các công ty hoạt động trong từng ngành không được cập nhật thường xuyên và đầy đủ. Do các đặc điểm trên, hệ số beta ngành của Việt Nam có thể chưa phản ánh được đúng mức độ rủi ro của các công ty trong ngành. Điều này sẽ được cải thiện khi TTCK phát triển hơn.
Phòng Giám sát