Hệ số beta ngành quý IV năm 2016

09:10-13/03/2017

Tính đến ngày 30/12/2016, TTCK có 698 công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), trong đó chỉ có 458 mã chứng khoán có đủ điều kiện để tính Beta ngành.

Sau khi tổng hợp và xử lý dữ liệu đưa đến kết quả như trên, chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét như sau:

Trong quý 4/2016, TTCK có khá nhiều biến động. Thị trường nhìn chung có xu hướng sụt giảm so với các quý trước, VN-index giảm xuống mức thấp nhất vào ngày 06/12/2016 ở mức 651,49 điểm, tuy nhiên sau đó, thị trường đã có tín hiệu phục hồi trở lại. Kết thúc quý 4/2016, VN-index chỉ đạt mức 685,73 điểm, tương ứng giảm 3,04% so với cuối quý 3/2016, HNX-index giảm về mức 80,117 điểm, tương ứng mức giảm 5,74% so với cuối quý 3/2016.

Sự biến động này của thị trường có tác động mạnh mẽ đến kết quả hệ số beta ngành quý 4/2016. Cụ thể: tất cả 16 mã ngành có thể tính toán được hệ số beta ngành đều có biến động cùng chiều với VN-Index.

Ngành có hệ số beta ngành lớn nhất là ngành Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện, có beta ngành là 1,120 và ngành có hệ số beta ngành nhỏ nhất là ngành Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic, có beta ngành là 0,295.

Đối với các ngành thuộc nhóm tài chính – ngân hàng, bao gồm ngành Hoạt động dịch vụ tài chính (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội), ngành Bảo hiểm, tái bảo hiểm và bảo hiểm xã hội (trừ bảo đảm xã hội bắt buộc), ngành Hoạt động tài chính khác và ngành Hoạt động kinh doanh bất động sản đều có mức biến động phụ thuộc khá chặt vào mức biến động của VN-Index. Cụ thể, ngành Bảo hiểm, tái bảo hiểm và bảo hiểm xã hội (trừ bảo đảm xã hội bắt buộc) có hệ số beta cao nhất trong nhóm là 0,946, tiếp theo là ngành Hoạt động dịch vụ tài chính (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội) có hệ số beta là 0,639. Hai ngành Hoạt động dịch vụ tài chính (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội) và Hoạt động kinh doanh bất động sản lần lượt có mức hệ số beta ngành là 0,573 và 0,541.

 

STT

Tên ngành

Mã ngành

Beta ngành

1

Sản xuất chế biến thực phẩm

10

0,528

2

Sản xuất trang phục

14

0,686

3

Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện

16

1,120

4

Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic

22

0,295

5

Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác

23

0,334

6

Sản xuất kim loại

24

0,632

7

Sản xuất xe có động cơ

29

1,113

8

Xây dựng nhà các loại

41

0,515

9

Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng

42

0,393

10

Hoạt động xây dựng chuyên dụng

43

0,403

11

Bán buôn (trừ ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác)

46

0,361

12

Vận tải đường thủy

50

0,909

13

Hoạt động dịch vụ tài chính (trừ bảo hiểm và bảo hiểm xã hội)

64

0,639

14

Bảo hiểm, tái bảo hiểm và bảo hiểm xã hội (trừ bảo đảm xã hội bắt buộc)

65

0,946

15

Hoạt động tài chính khác

66

0,573

16

Hoạt động kinh doanh bất động sản

68

0,541

 

Ghi chú:

Hệ số beta ngành được tính theo phương pháp Full Information Beta

Dữ liệu tính beta được thu thập từ Reuter và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Hệ thống ngành được phân loại theo hướng dẫn tại quyết định 337/QĐ-BKH

Hệ số beta ngành trong báo cáo này chỉ có tính chất tham khảo.

Hệ số beta và hệ số beta ngành:

Hệ số beta thể hiện mức độ biến động của tỷ suất sinh lời của cổ phiếu so với mức độ biến động tỷ suất sinh lời của thị trường. Hệ số beta càng lớn thì mức độ biến động giá của cổ phiếu càng lớn, rủi ro càng lớn. Hệ số beta nhỏ hơn 1 có nghĩa là giá của cổ phiếu ít biến động hơn so với thị trường. 

Ví dụ: hệ số beta của một cổ phiếu là 1.2, nếu chỉ số của thị trường (ví dụ: VN Index) tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu có thể được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 12%. Với hệ số beta của một cổ phiếu là 0.8, nếu chỉ số thị trường tăng hoặc giảm 10%, thì giá của cổ phiếu đó được mong đợi tăng hoặc giảm tương ứng 8%.

Hệ số beta ngành có thể so sánh mức độ rủi ro của các công ty trong ngành công nghiệp đó với thị trường. Hệ số beta ngành có thể được dùng thay thế cho hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành trong một số trường hợp phản ánh chính xác sự biến động của cổ phiếu hơn là hệ số beta của từng công ty. Hệ số beta ngành còn có ích khi áp dụng cho những công ty vừa mới niêm yết chưa có số liệu lịch sử. Hệ số beta ngành còn được dùng để dự báo mức độ rủi ro cho các công ty trong tương lai. Số lượng và tỷ trọng doanh thu của công ty hoạt động trong một ngành càng lớn thì mức độ tin tưởng của hệ số beta của ngành công nghiệp đó càng cao.

Điều kiện tính hệ số beta của Việt Nam còn một số hạn chế như: số lượng công ty tham gia vào thị trường chứng khoán nhỏ, nhiều ngành có số lượng công ty đại diện rất ít, dữ liệu lịch sử về giá ngắn, thông tin về các công ty hoạt động trong từng ngành không được cập nhật thường xuyên và đầy đủ. Do các đặc điểm trên, hệ số beta ngành của Việt Nam có thể chưa phản ánh được đúng mức độ rủi ro của các công ty trong ngành. Điều này sẽ được cải thiện khi thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) phát triển hơn.

Nhóm nghiên cứu - Phòng Giám sát