Giải pháp tăng cường hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN, góp phần tham gia sâu hơn vào quá trình cơ cấu lại hệ thống QTDND

14:19-01/02/2021

Hệ thống tài chính - ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế đất nước, một sự bất ổn dù chỉ là dấu hiệu nhỏ cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hệ thống kinh tế. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) với vai trò là tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền luôn chú trọng tăng cường, nâng cao hiệu quả các hoạt động nghiệp vụ của mình theo các khuyến nghị quốc tế nhằm góp phần phát hiện, cảnh báo sớm và ngăn ngừa dấu hiệu khủng hoảng; cũng như tham gia sâu hơn vào quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng (TCTD) đảm bảo sự an toàn, lành mạnh cho hệ thống tài chính - ngân hàng và an ninh xã hội.

Bộ các nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả sửa đổi (2014) khuyến nghị:

Nguyên tắc 13 - Phát hiện sớm và can thiệp kịp thời: “Tổ chức bảo hiểm tiền gửi cần phải là một bộ phận của hệ thống an toàn tài chính để phát hiện sớm, can thiệp và xử lý kịp thời các ngân hàng đổ vỡ. Khung khổ này cần cho phép can thiệp trước thời điểm một ngân hàng phá sản. Hành động đó cần bảo vệ người gửi tiền và đóng góp vào sự ổn định tài chính”.

Nguyên tắc 14 - Xử lý đổ vỡ: “Quy trình xử lý đổ vỡ hiệu quả cần cho phép tổ chức BHTG cung cấp sự bảo vệ cho người gửi tiền và đóng góp vào sự ổn định tài chính. Khung khổ pháp luật cần bao gồm cơ chế xử lý đặc biệt”.

Theo các khuyến nghị này, tổ chức BHTG cần chủ động chuẩn bị các tình huống đối phó liên quan đến năng lực tài chính và nguồn nhân lực tham gia xử lý khi phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro, ngoài mục tiêu nâng cao hoạt động giám sát hệ thống; cũng như xây dựng một cơ chế xử lý thống nhất, linh hoạt và đồng bộ nhằm phản ứng kịp thời các tình huống xử lý, đảm bảo duy trì thời gian xử lý là ngắn nhất. Ngoài ra, cơ chế xử lý hiệu quả cần xây dựng theo hướng không chỉ hạn chế ở việc chi trả cho người gửi tiền.

Trên cơ sở các khuyến nghị trên, cũng như thực tế triển khai chức năng và nhiệm vụ của BHTGVN theo quy định tại Luật BHTG và Luật các TCTD (2017) trong thời gia qua cho thấy, thông qua các mặt hoạt động nghiệp vụ như giám sát, kiểm tra, quản lý thu phí & chi trả BHTG, tham gia kiểm soát đặc biệt (KSĐB)... đặc biệt, trong năm 2019 BHTGVN đã tham gia việc hỗ trợ chức năng kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đối với quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) thông qua việc kiểm tra một số nội dung về an toàn trong hoạt động tại các QTDND do Thống đốc NHNN giao, BHTGVN đang ngày càng khẳng định vai trò của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền và góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD, trong đó có QTDND.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn có những hạn chế, vướng mắc liên quan đến việc phối hợp, trao đổi thông tin về tình hình hoạt động của các QTDND, đặc biệt là các QTDND yếu kém giữa NHNN và BHTGVN; vai trò, nhiệm vụ của các cơ quan liên quan trong hỗ trợ thực hiện các phương án tái cơ cấu và xử lý QTDND yếu kém còn nhiều bất cập; cơ chế phối hợp khi tham gia quá trình KSĐB đối với QTDND chưa thật sự cụ thể, phần nào gây khó khăn cho việc tham gia các Ban KSĐB của cán bộ BHTGVN; việc phối hợp, hỗ trợ chức năng kiểm tra của NHNN đối với QTDND chưa được cụ thể hóa bằng một văn bản pháp quy...

Thiết nghĩ cần nghiên cứu và triển khai một số giải pháp nhằm tăng cường các hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN, góp phần tham gia sâu hơn vào quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD, đặc biệt là QTDND theo định hướng của Chính phủ và NHNN tại Đề án củng cố và phát triển hệ thống QTDND đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; cũng như hướng tới việc tổng kết Đề án cơ cấu lại các TCTD giai đoạn 2016-2020 và triển khai thực hiện các nhiệm vụ mới tại Đề án giai đoạn 2021-2025 ngay khi được ban hành, cụ thể:

Thứ nhất, đổi mới, tăng cường và hoàn thiện phương pháp giám sát QTDND theo 03 cấp độ gồm:

Cấp độ 1: Áp dụng đối với các QTDND hoạt động bình thường với hình thức giám sát thông thường theo các nguyên tắc, tiêu chí chung.

Cấp độ 2: Áp dụng đối với các QTDND có vấn đề (loại chưa đặt vào KSĐB, loại bị NHNN đặt vào cảnh báo sớm; loại có vấn đề đặc biệt khác) với hình thức giám sát chuyên sâu (hay giám sát tăng cường) với chỉ tiêu và phương pháp riêng.

Cấp độ 3: Áp dụng đối với các QTDND được KSĐB với cơ chế giám sát đặc biệt với phương pháp và chỉ tiêu đặc biệt, gắn với phương án cơ cấu lại các QTDND được KSĐB.

Thứ hai, tăng cường hoạt động kiểm tra đối với các QTDND theo 05 hình thức sau:

Hình thức 1: Kiểm tra định kỳ - được thực hiện theo kế hoạch hàng năm đã được HĐQT BHTGVN phê duyệt.

Hình thức 2: Kiểm tra đột xuất - được tiến hành khi phát hiện đối tượng kiểm tra (QTDND) có dấu hiệu vi phạm pháp luật về BHTG hoặc có yêu cầu kiểm tra đột xuất của cơ quan có thẩm quyền.

Hình thức 3: Kiểm tra chuyên sâu - là hình thức kiểm tra được tiến hành theo chuyên đề đối với QTDND có vấn đề (kiểm tra chuyên sâu về tiền gửi được bảo hiểm, chuyên sâu về phí BHTG, dữ liệu về tiền gửi lưu trữ ở QTDND,...).

Hình thức 4: Kiểm tra đặc biệt - là hình thức kiểm tra được tiến hành khi tham gia KSĐB, khi phát sinh nghĩa vụ chi trả, khi cho vay KSĐB, khi xem xét miễn nộp phí, khi lập phương án xử lý,...

Hình thức 5: Kiểm tra theo ủy quyền - là hình thức kiểm tra theo sự ủy quyền của cơ quan có thẩm quyền (Thủ tướng Chính phủ, NHNN, yêu cầu phối hợp của các cấp NHNN).

Thứ ba, chú trọng, ưu tiên xây dựng và triển khai đề án, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giám sát, kiểm tra, tham gia KSĐB cả về kiến thức lẫn kỹ năng từ cơ bản đến nâng cao; cũng như xây dựng và vận hành hệ thống công nghệ tin học hiện đại của BHTGVN đáp ứng các yêu cầu về tính hiệu quả công tác giám sát và kiểm tra góp phần nâng cao chất lượng phân tích, báo cáo và cảnh báo rủi ro.

Thứ tư, đề xuất với NHNN ban hành văn bản quy định cụ thể về nhiệm vụ, trách nhiệm của BHTGVN trong việc phối hợp tham gia, hỗ trợ chức năng kiểm tra, giám sát của NHNN đối với QTDND bằng một văn bản pháp quy (như Thông tư của NHNN) làm cơ sở pháp lý cho BHTGVN triển khai thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, hướng dẫn cụ thể hơn về cách thức, phương pháp, việc phối hợp với NHNN (Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố) trong việc thực hiện các nội dung kiểm tra và việc xử lý kết quả sau kiểm tra theo yêu cầu của Thống đốc NHNN nhằm đảm bảo việc thực hiện kiểm tra đúng thời gian quy định và đạt hiệu quả cao.

Thứ năm, đối với việc tham gia có hiệu quả quá trình cơ cấu lại các QTDND: Sử dụng một cách tối ưu hóa nguồn lực tài chính của tổ chức BHTGVN trong từng giai đoạn của quá trình cơ cấu lại QTDND yếu kém theo hướng đề xuất bổ sung cơ chế hỗ trợ tài chính đối với các QTDND được áp dụng hình thức can thiệp sớm hoặc trường hợp QTDND có tầm ảnh hưởng hệ thống không thể giải thể, phá sản nhưng chưa đặt vào KSĐB từ Quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTGVN.

Thứ sáu, bổ sung, hoàn thiện cơ chế cho vay đặc biệt đối với QTDND được KSĐB; cũng như nghiên cứu hoàn thiện giải pháp mua trái phiếu dài hạn của TCTD hỗ trợ QTDND được KSĐB, trong đó xác định rõ nguồn tiền BHTGVN sử dụng để thực hiện và cơ chế xử lý rủi ro từ hoạt động vay đặc biệt đối với QTDND được KSĐB và hoạt động mua trái phiếu dài hạn của TCTD hỗ trợ.

Thứ bảy, nghiên cứu, xây dựng và ban hành quy chế của BHTGVN về việc tham gia đánh giá tính khả thi của Phương án phục hồi QTDND được KSĐB; cách thức hỗ trợ QTDND được KSĐB thực hiện phương án sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng toàn bộ vốn góp, phương án chuyển giao bắt buộc và phương án phá sản, trong đó quy định rõ các hình thức đánh giá, hỗ trợ và quy trình tiếp nhận, xử lý.

Thứ tám, tiếp tục nghiên cứu, cải tiến và nâng cấp hệ thống dữ liệu tiền gửi được bảo hiểm tại các QTDND theo quy định của BHTGVN, trong đó chú trọng việc tích hợp phần mềm ICM của BHTGVN với các phần mềm kế toán của các QTDND; nâng cao tính bảo mật phần mềm truyền thông tin tiền gửi từ QTDND đến BHTGVN; đào tạo, tập huấn cho cán bộ làm công tác trực tiếp liên quan đến tiền gửi được bảo hiểm tại các QTDND.

Thứ chín, nghiên cứu và xây dựng Chiến lược truyền thông chính sách BHTG phù hợp với Chiến lược phát triển BHTGVN ngay sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong đó, tạo dựng một mô hình truyền thông chính sách hiệu quả, chú trọng các đối tượng truyền thông theo từng cấp độ; cũng như đa dạng hóa các hình thức truyền thông phù hợp với tiêu chí từng giai đoạn đã xây dựng trong Chiến lược truyền thông. Ngoài ra, tổ chức đánh giá hiệu quả tuyên truyền chính sách BHTG và quy trình truyền thông tại từng địa phương.

Tóm lại, trong thời gian qua, thông qua các hoạt động nghiệp vụ, BHTGVN đã từng bước khẳng định được vị trí và vai trò của tổ chức BHTG duy nhất tại Việt Nam trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền; cũng như góp phần vào quá trình tái cơ cấu các TCTD, đặc biệt là các QTDND yếu kém. Để phát huy những kết quả đạt được, tiến tới việc tham gia sâu hơn vào quá trình cơ cấu lại các TCTD, đặc biệt là QTDND, BHTGVN cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới các quy trình, hoạt động nghiệp vụ để kịp thời ứng dụng và triển khai có hiệu quả, góp phần hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

Ths. Đỗ Thị Hằng - Trưởng phòng Kiểm tra BHTGVN

Ths. Nguyễn Hải Hà - Phòng Kiểm tra BHTGVN