Tài chính vi mô góp phần quan trọng xóa đói giảm nghèo

13:23-11/10/2018

Thời gian qua, hoạt động tài chính vi mô (TCVM) tiếp tục khẳng định được vai trò quan trọng trong việc gia tăng mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính của người nghèo, người có thu nhập thấp, góp phần quan trọng thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo, hạn chế cho vay nặng lãi, đặc biệt ở khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa. Để hoạt động TCVM phát triển cần sự phối hợp triển khai nhiều giải pháp từ cơ quan hoạch định chính sách và chính quyền địa phương các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức đoàn thể và tổ chức TCVM…

Hiểu một cách đơn giản, TCVM là việc cấp các khoản vay nhỏ cho các hộ gia đình có thu nhập thấp (gọi là tín dụng vi mô) nhằm giúp họ có cơ hội phát triển sản xuất và khởi nghiệp. Hoạt động TCVM được biết đến chủ yếu với vai trò là một trong những công cụ xóa đói giảm nghèo hữu hiệu tại Việt Nam (với hơn 72% dân số sống ở nông thôn – khu vực có hơn 90% người nghèo của cả nước sinh sống), nhưng lại chiếm thị phần rất nhỏ trong hệ thống tài chính tại Việt Nam.

Gia tăng mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính của người nghèo, người có thu nhập thấp

Đến nay, NHNN đã cấp phép hoạt động cho 04 tổ chức TCVM, gồm: Tổ chức TCVM Tình thương (TYM), Tổ chức TCVM M7, Tổ chức TCVM Thanh Hóa (Thanh Hóa MFI) và Tổ chức TCVM cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP). Hoạt động của các tổ chức này có sự tăng trưởng khá ổn định. Tổng vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng tăng 185% so với cuối năm 2016. Tổng dư nợ cho vay tăng 236,4% so với cuối năm 2016, tập trung vào các lĩnh vực dịch vụ, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Kết quả này cho thấy các sản phẩm tiết kiệm của các tổ chức TCVM đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và khẳng định uy tín, sự tin cậy của các tổ chức TCVM đối với các thành viên.

Với đặc điểm ưu việt của loại hình TCVM là hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên có thu nhập thấp với hình thức cho vay tín chấp thông qua bảo lãnh của nhóm khách hàng vay vốn (5 đến 7 người trở lên) nên khi có khách hàng trong nhóm gặp khó khăn, đến hạn nhưng chưa trả được nợ, các thành viên còn lại sẽ hỗ trợ trả nợ. Phương thức trả gốc và lãi linh hoạt theo tuần, 2 tuần, tháng hoặc quý phù hợp với mục đích của từng khoản vay và chu kỳ sản xuất, kinh doanh. Nhờ đó, tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức TCVM ở mức thấp, chỉ 0,3% tổng dư nợ, kết quả kinh doanh đạt khá cao với thu nhập lớn hơn chi phí là 94,8 tỷ đồng trong năm 2017, tăng 108,7% so với năm 2016, trong đó CEP và TYM đạt 46,6 tỷ đồng và 41,3 tỷ đồng. Đến tháng 5/2018, có hơn 400 chương trình, dự án TCVM hoạt động tại các tỉnh, thành phố trên cả nước.

Ngoài ra, có các tổ chức tín dụng (TCTD) khác cũng cung cấp dịch vụ TCVM tại Việt Nam, như Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP), hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Những kết quả đạt được cho thấy, hoạt động TCVM tiếp tục khẳng định được vai trò quan trọng trong việc gia tăng mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính của người nghèo, người có thu nhập thấp, góp phần quan trọng thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo, hạn chế cho vay nặng lãi, đặc biệt ở khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa. Với các sản phẩm tiết kiệm linh hoạt và các khoản vay nhỏ, thủ tục nhanh gọn, thời hạn và lịch hoàn trả linh hoạt, các tổ chức, chương trình, dự án TCVM đã giúp người nghèo, người có thu nhập thấp dễ dàng tiếp cận dịch vụ tài chính hiệu quả để cải thiện đời sống và tổ chức sản xuất, kinh doanh.

Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, hoạt động TCVM còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc khi khách hàng TCVM được thụ hưởng nhiều dịch vụ phi tài chính đa dạng như chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm sản xuất kinh doanh; nâng cao kiến thức về sức khỏe, dân số, kế hoạch hóa gia đình; khám và tư vấn sức khỏe, trao tặng học bổng và nhà tình nghĩa cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn... Đặc biệt, sự tham gia tích cực của các tổ chức hội và đoàn thể đã giúp tăng cường đoàn kết trong cộng đồng dân cư và tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về an sinh xã hội.

Vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức…

Mặc dù đã đạt được những kết quả rất khả quan nhờ sự nỗ lực vào cuộc của các cấp, các ngành vì mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, nâng cao khả năng tiếp cận tài chính cho người nghèo và người có thu nhập thấp, nhưng hoạt động TCVM tại Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức không nhỏ. Cụ thể:

Thứ nhất, các chương trình, dự án vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, như hoạt động tự phát, không thống nhất, được quản lý bởi các đơn vị khác nhau (UBND các cấp, Hội Phụ nữ các cấp, Hội Nông dân các cấp…) nên công tác quản lý còn thiếu tập trung, công tác phối hợp còn nhiều bất cập dẫn đến việc kiểm tra, giám sát và xây dựng, ban hành các văn bản điều chỉnh đối với hoạt động TCVM còn chậm.

Thứ hai, mặc dù khuôn khổ pháp lý hiện hành áp dụng cho hoạt động TCVM đã được xây dựng tương đối đầy đủ nhưng quá trình triển khai trong thực tiễn vẫn còn một số bất cập. Một số quy định cần tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện, đảm bảo phù hợp với đặc thù hoạt động TCVM, nhất là các quy định liên quan đến việc quản lý và sử dụng viện trợ phi Chính phủ nước ngoài; quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý xã hội; quy định tổ chức và hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện; quy định về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ...

Thứ ba, hiệp hội TCVM chưa được thành lập để thực hiện vai trò là tổ chức đại diện, làm đầu mối hỗ trợ đào tạo, tư vấn cho các tổ chức TCVM, chương trình, dự án TCVM một cách có hệ thống...

Thứ tư, tỷ lệ người nghèo, hộ gia đình có thu nhập thấp tại Việt Nam khá cao nên nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống của các thành viên từ các tổ chức TCVM và chương trình, dự án TCVM ngày càng lớn trong khi việc tăng trưởng nguồn vốn của các chương trình, dự án TCVM gặp khó khăn; nhiều chương trình, dự án phụ thuộc vào nguồn vốn tài trợ. Khó khăn về nguồn vốn khiến nhiều chương trình, dự án TCVM có quy mô hoạt động nhỏ bé, thiếu chuyên nghiệp và chưa có tầm lan tỏa sâu rộng.

Thứ năm, khu vực TCVM không chính thức (bao gồm hoạt động cá nhân theo nhóm lẻ thông qua các hình thức như hụi/họ, vay mượn họ hàng, bạn bè, láng giềng hoặc đi vay của người cho vay lãi, vay cầm đồ...) tiềm ẩn nguy cơ về lãi suất cao quá sức chịu đựng của người vay và rủi ro mất an toàn vốn cho người tham gia gửi tiền, gây ảnh hưởng đến đời sống của người nghèo và người có thu nhập thấp cũng như an ninh, trật tự tại các địa phương.

Trong khi đó, thị trường đã chuyển dịch hướng tới mục tiêu tài chính số, một xã hội hạn chế dùng tiền mặt, nhiều ngân hàng thương mại và công ty tài chính đã nắm bắt cơ hội mở rộng quy mô thông qua dịch vụ cho vay tiêu dùng bằng các sản phẩm ngân hàng điện tử và di động. Điều này tạo ra thách thức không nhỏ với tổ chức TCVM.

Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động TCVM

Để thúc đẩy hoạt động TCVM phát triển, các cơ quan hoạch định chính sách và chính quyền địa phương các cấp, cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:

 (i) Sớm ban hành đầy đủ hành lang pháp lý tạo điều kiện cho hoạt động TCVM phát triển bền vững. Theo đó, các Bộ, ngành liên quan cần xác định rõ trách nhiệm của mình trong việc tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động TCVM phát triển.

(ii) Cần chủ động triển khai thực hiện và hoàn thành đúng tiến độ các nhiệm vụ cụ thể đã được Thủ tướng Chính phủ giao tại Đề án (Quyết định 2195/QĐ-TTg), có các giải pháp, chương trình hành động cụ thể tạo điều kiện cho TCVM phát triển, qua đó hướng tới phụ nữ nghèo.

(iii) Cần có cơ chế, chính sách khơi thông nguồn vốn cho TCVM - một kênh cung cấp vốn cho người nghèo để sản xuất, kinh doanh, có cơ hội thoát nghèo bền vững. Có chính sách bố trí nguồn vốn uỷ thác để các tổ chức TCVM thực hiện cho vay người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thực hiện nghĩa vụ xã hội theo hình thức tạo nguồn vốn cho các tổ chức TCVM hoặc thành lập các chương trình tín dụng vi mô thay cho việc tài trợ trực tiếp, cho vay không hoàn lại cho các tổ chức TCVM.

(iv) Cần có cơ chế, chính sách tuyên truyền, khuyến khích và có các biện pháp hỗ trợ thiết thực đối với các tổ chức TCVM trong việc ứng dụng công nghệ số hoặc liên kết với các ngân hàng thương mại, công ty Fintech trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ để đa dạng hóa các kênh phân phối cũng như phát triển sản phẩm, dịch vụ sáng tạo hơn, mặt khác đưa sản phẩm đến với khách hàng là phụ nữ tại những khu vực vùng sâu, vùng xa , nơi mà họ không thể hoặc khó tiếp cận các dịch vụ TCVM.

(v) Các Bộ, ban ngành, chính quyền địa phương các cấp, các tổ chức chính trị -xã hội, tổ chức nghề nghiệp cần chủ động nghiên cứu, bổ sung chỉ số về nâng cao vị thế của phụ nữ để làm cơ sở, phục vụ quá trình xây dựng, đánh giá các chính sách tín dụng vi mô.

Đối với các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức đoàn thể, cần hỗ trợ các tổ chức TCVM về nhân sự, cán bộ, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc; hỗ trợ các tổ chức TCVM trong công tác tuyên truyền, vận động (thông qua chương trình vận động, tuyên truyền định kỳ, thường xuyên và liên tục tại các cụm, tổ) để phổ biến, giới thiệu cho dân cư trên địa bàn hiểu biết hơn về lợi ích, hiệu quả về TCVM; đồng thời phối hợp cùng các tổ chức TCVM (chính thức và bán chính thức) quản lý, giám sát quá trình hoạt động cho vay của các tổ chức TCVM để bà con, khách hàng yên tâm đồng hành, sử dụng khoản vay hiệu quả.

Đối với các tổ chức TCVM,thứ nhất, cần tăng cường công tác quản trị và điều hành theo hướng: (i) Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, quản trị, điều hành, phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các bộ phận trong cơ cấu tổ chức; (ii) Xây dựng cơ chế kiểm soát, kiểm toán nội bộ, vận hành tổ chức hiệu quả nhằm đảm bảo hoạt động an toàn, lành mạnh; (iii) Có lộ trình nâng cao khả năng áp dụng các chuẩn mực, tiêu chuẩn trong quản trị rủi ro, quản lý tài sản nợ - có, đảm bảo các tỷ lệ an toàn trong hoạt động…; (iv) Hợp tác trong hoạt động với các tổ chức TCVM khác, các TCTD khác có cung cấp dịch vụ TCVM như NHCSXH, quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dưới hình thức quan hệ đối tác hoặc quan hệ đại lý để tăng quy mô, tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn, đồng thời qua đó gia tăng uy tín trong hệ thống các TCTD; (v) Tận dụng sức mạnh của chính quyền địa phương, đoàn thể chính trị/xã hội để tối ưu hóa hoạt động. Điều này giúp tăng uy tín của tổ chức đối với các nhà quản lý cũng như uy tín chung đối với khách hàng – là cơ hội để phát triển thị trường trong tương lai; (vi) Tranh thủ cơ hội về nguồn tài trợ để đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên, từng bước nâng cấp và hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý, lựa chọn và áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình vận hành, quản lý.

Thứ hai, cần tăng tính bền vững thông qua giảm chi phí, tăng các nguồn thu.  Các tổ chức TCVM có thể giảm chi phí hoạt động thông qua (i) áp dụng hệ thống quản lý vận hành tốt; (ii) sử dụng công nghệ để giảm chi phí; (iii) giảm các chi phí hoạt động không cần thiết ở mức tối đa, tiết kiệm chi phí hoạt động; (iv) quản lý nợ tốt hơn nữa để giảm chi phí dự phòng rủi ro, tăng cường chia sẻ thông tin tín dụng với các TCTD trong địa bàn để tránh tình trạng chồng nợ; (v) mở rộng hoạt động theo chiều rộng và chiều sâu để giảm chi phí trên 1 đồng vốn cho vay, đa dạng hóa loại hình khách hàng; (vi) giảm chi phí huy động vốn của TCTCVM thông qua thu hút các nhà đầu tư trong nước và quốc tế trên thị trường;

Bên cạnh đó, việc tăng nguồn thu cũng cần được song song tiến hành thông qua đa dạng hóa nguồn thu, tăng cường bán chéo sản phẩm để khuyến khích khách hàng hiện tại sử dụng nhiều dịch vụ hơn; (ii) phát triển đa dạng hơn các loại sản phẩm TCVM, như các dịch vụ đại lý (chuyển tiền qua điện thoại, bảo hiểm, thu hộ); (iii) áp dụng các hình thức thu nợ đa dạng để có dòng tiền vào liên tục; (iv) liên tục đổi mới để nâng cao hiệu quả hoạt động.

Thứ ba, tăng cường minh bạch hóa thông tin để tăng uy tín và bảo vệ quyền lợi khách hàng. Để bảo vệ quyền lợi khách hàng và tăng uy tín của tổ chức, cần minh bạch các thông tin cơ bản trong hoạt động với khách hàng, như: lãi suất, các điều khoản hợp đồng, báo cáo tài chính. Các quyền lợi và nghĩa vụ của khách hàng trong gửi tiền và vay vốn được thể hiện rõ ràng trong các quy định nội bộ, cam kết với khách hàng và được niêm yết công khai. Đồng thời, nghiêm túc thực hiện kiểm toán độc lập thường xuyên đối với báo cáo tài chính để tăng tính minh bạch của tổ chức, từ đó uy tín của tổ chức TCVM được xây dựng và củng cố.

Thứ tư, đa dạng hóa dịch vụ, tăng cường chất lượng dịch vụ TCVM cung cấp cho khách hàng, cân bằng giữa các mục tiêu tài chính và xã hội. Các tổ chức TCVM cần tăng cường huy động tiết kiệm dân cư với các cách thức huy động khác nhau, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn với các mức lãi suất khác nhau. Đồng thời, chủ động tìm kiếm các nguồn huy động rẻ một cách tương đối như: vốn từ các nhà tài trợ, các nhà đầu tư cho phát triển, vốn ủy thác của các NHTM. Đây là cơ sở quan trọng nhất để các tổ chức TCVM giảm lãi suất cho vay, tăng khả năng hoạt động bền vững.

Bên cạnh đó, các tổ chức TCVM cũng cần đồng thời tăng cường công tác nghiên cứu thị trường, cải tiến và áp dụng sản phẩm dịch vụ mới.

Thứ năm, cần chú ý nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây là một trong những giải pháp chủ chốt và lâu dài để phát triển hoạt động bền vững các tổ chức TCVM Việt Nam.

Thứ sáu, nâng cao năng lực, am hiểu pháp luật cho nhà cung cấp sản phẩm TCVM và khách hàng. Thực tế cho thấy, phần lớn các nhà cung cấp sản phẩm TCVM và khách hàng tập trung tại vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn nên năng lực, sự am hiểu pháp luật còn rất hạn chế. Hầu hết các tổ chức cung cấp TCVM và khách hàng chưa có sự am hiểu đầy đủ, đúng các quy định hiện hành. Do vậy, để có thể tiến tới bền vững về thể chế, các tổ chức TCVM cần có sự quan tâm đúng mức, thỏa đáng trong việc nghiên cứu các quy định hiện hành liên quan đến hoạt động TCVM để hoạt động đúng theo khuôn khổ pháp luật.

Linh Thủy

Các tin đã đăng