Nhiều điểm mới trong chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thôn

13:27-11/10/2018

Ngày 7/9/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với nhiều điểm mới được coi như bước đột phá góp phần hỗ trợ về vốn phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Mở rộng đối tượng, nâng mức cho vay

Thứ nhất, về đối tượng vay vốn, để phù hợp với quy định của Bộ Luật Dân sự 2015, Nghị định 116 sửa đổi Khoản 2 Điều 2 và bổ sung Khoản 3 vào Điều 2 Nghị định 55/2015/NĐ-CP theo hướng: Khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng là cá nhân và pháp nhân; hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân khi tham gia quan hệ vay vốn thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch vay vốn hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch vay vốn.

Thứ hai, mức cho vay tối đa không có tài sản bảo đảm cũng được nâng lên so với nghị định cũ. Theo đó, Nghị định 116 quy định nâng mức cho vay tối đa không có tài sản đảm bảo của cá nhân, hộ gia đình cư trú ngoài khu vực nông thôn có sản xuất kinh doanh (SXKD) trong lĩnh vực nông nghiệp từ 50 triệu đồng lên 100 triệu đồng; cá nhân, hộ gia đình cư trú tại địa bàn nông thôn từ 100 triệu đồng lên 200 triệu đồng để phù hợp với nhu cầu vốn phục vụ sản xuất nông nghiệp thực tế hiện nay.

Thứ ba, mở rộng đối tượng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao (CNC) được hưởng chính sách, cụ thể: Bổ sung cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có dự án, phương án SXKD trong khu nông nghiệp ứng dụng CNC, vùng nông nghiệp ứng dụng CNC; bổ sung doanh nghiệp chưa được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng CNC nhưng có dự án, phương án SXKD ứng dụng CNC trong nông nghiệp không thuộc khu nông nghiệp ứng dụng CNC, vùng nông nghiệp ứng dụng CNC được tổ chức tín dụng (TCTD) xem xét cho vay tối đa 70% nhu cầu vốn thực hiện dự án (Nghị định số 55 chỉ quy định doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong khu, vùng nông nghiệp ứng dụng CNC được hưởng chính sách này);

Thứ tư, quy định về việc TCTD được nhận tài sản hình thành từ vốn vay của dự án, phương án SXKD ứng dụng CNC trong nông nghiệp làm tài sản bảo đảm cho khoản vay của khách hàng; qua đó góp phần tháo gỡ khó khăn về tài sản bảo đảm cho khách hàng, đặc biệt là các tài sản có giá trị lớn trên đất nông nghiệp (như nhà kính, nhà lưới, nhà màng…);

Thứ năm, quy định về quản lý dòng tiền cho vay liên kết trong sản xuất nông nghiệp, góp phần hạn chế rủi ro tín dụng và tạo cơ sở pháp lý khuyến khích TCTD đẩy mạnh cho vay.

Thứ sáu, quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục xử lý khoanh nợ và thẩm quyền thực hiện khoanh nợ đối với khách hàng gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan bất khả kháng; tạo cơ sở để các đơn vị liên quan thực hiện nhằm tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn.

Thứ bảy, quy định về việc TCTD xem xét thỏa thuận với khách hàng về thời gian ân hạn gốc và lãi phù hợp với giai đoạn kiến thiết của cây trồng lâu năm, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thực hiện trồng mới các loại cây lâu năm.

Có nhiều ý nghĩa

Nghị định số 116/2018/NĐ-CP được coi là bước đột phá đẩy mạnh nguồn vốn tín dụng đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn với nhiều chính sách quan trọng, tập trung đẩy mạnh đầu tư tín dụng khuyến khích sản xuất nông nghiệp CNC, các mô hình liên kết trong sản xuất nông nghiệp nhằm góp phần thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo chỉ đạo của Đảng, Chính phủ. Ngoài ra, Nghị định 116 còn có nhiều ý nghĩa, như:

Thứ nhất, nâng mức cho vay tối đa không có tài sản bảo đảm của một số đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình lên gấp hai lần mức cho vay tối đa cũ. Việc nâng mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với các khách hàng này góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của người dân (nhất là vùng sâu, vùng xa); đồng thời góp phần hạn chế tình trạng khách hàng thiếu vốn SXKD và không có tài sản bảo đảm phải tìm đến các nguồn vốn khác.

Thứ hai, một trong những trọng tâm của nghị định là bổ sung chính sách hướng tới nông nghiệp CNC, liên kết trong sản xuất nông nghiệp, góp phần thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, như: Mở rộng đối tượng được vay vốn SXKD, ưu tiên các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng CNC và các doanh nghiệp có dự án, phương án SXKD nông nghiệp ứng dụng CNC không thuộc khu, vùng nông nghiệp ứng dụng CNC đáp ứng tiêu chí theo quy định được TCTD cho vay. Bên cạnh đó, nghị định cũng bổ sung quy định về việc TCTD được nhận tài sản hình thành từ vốn vay của dự án, phương án SXKD ứng dụng CNC trong nông nghiệp làm tài sản bảo đảm cho khoản vay của khách hàng.

Thứ ba, quy định về quản lý dòng tiền cho vay liên kết trong sản xuất nông nghiệp: Thực hiện Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 5/3/2014 của Chính phủ, NHNN đã ban hành Quyết định số 1050/QĐ-NHNN ngày 28/5/2014 hướng dẫn thực hiện Chương trình cho vay thí điểm chuỗi liên kết, làm cơ sở để xây dựng chính sách đối với cho vay liên kết chuỗi tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP. Tuy nhiên, tại quyết định thí điểm và Nghị định số 55/2015/NĐ-CP chưa hướng dẫn cụ thể về việc quản lý dòng tiền cho vay chuỗi liên kết. Do đó, Nghị định số 116/2018/NĐ-CP đã bổ sung quy định này để các TCTD thống nhất thực hiện, góp phần hạn chế rủi ro tín dụng và tạo cơ sở pháp lý khuyến khích TCTD đẩy mạnh cho vay, đồng thời giúp người dân được vay vốn để thực hiện liên kết.

Thứ tư, quy định về thủ tục xử lý khoanh nợ và thẩm quyền thực hiện khoanh nợ đối với khách hàng gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan bất khả kháng, trong đó có sự tham gia của chính quyền địa phương trong việc thông báo thiên tai, dịch bệnh trên phạm vi rộng, xác nhận thiệt hại về vốn vay của khách hàng… đồng thời, sử dụng nguồn ngân sách địa phương trong xử lý khoanh nợ (trường hợp khó khăn báo cáo Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp NHNN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hỗ trợ từ dự phòng ngân sách Trung ương).

Thứ năm, để tiếp tục hỗ trợ người dân, doanh nghiệp thực hiện cải tạo, tái canh cây cà phê nói riêng và cây lâu năm nói chung, Nghị định số 116/2018/NĐ-CP đã bổ sung quy định về ân hạn. Theo đó, đối với các loại cây trồng lâu năm, thời gian đầu tư vốn dài, TCTD và khách hàng thỏa thuận thời gian ân hạn gốc và lãi phù hợp với giai đoạn kiến thiết của cây trồng, cây công nghiệp lâu năm, như: Cà phê, cao su, hồ tiêu, điều…

Linh Thủy

Các tin đã đăng