Sức mạnh của công cụ bảo hiểm tiền gửi

14:33-05/11/2018

Hoạt động của các tổ chức tài chính nói chung và các ngân hàng nói riêng luôn có những rủi ro, hậu quả có thể dẫn tới tê liệt hệ thống tài chính quốc gia; xã hội bất ổn và niềm tin của các nhà đầu tư bị giảm sút. Công cụ bảo hiểm tiền gửi (BHTG) được khởi xướng là “cứu cánh” cho hoạt động  ngân hang, là giải pháp củng cố, duy trì và nâng cao niềm tin từ cộng đồng, đồng thời cũng là thách thức đối với đối tác thiết kế và triển khai công cụ BHTG.

Niềm tin của cộng đồng quyết định sự tồn tại và phát triển đối với ngân hàng

Yếu tố niềm tin đối với ngân hàng từ cộng đồng trong kinh doanh ngân hàng có tầm quan trọng đặc biệt. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Ngân hàng sau khi được thành lập, với số vốn nhất định ban đầu, để triển khai được đồng bộ các hoạt động, mở chi nhánh, xâm nhập thị trường trong và ngoài nước, ứng dụng công nghệ... phụ thuộc rất lớn vào niềm tin của cộng đồng. Với niềm tin lớn từ cộng đồng, ngân hàng có khả năng huy động vốn, bán sản phẩm và dịch vụ. Nguồn vốn huy động hoàn toàn phụ thuộc vào niềm tin mà ngân hàng có được từ cộng đồng. Niềm tin vào ngân hàng càng lớn, tính bền vững và quy mô hoạt động tài sản nợ của ngân hàng càng được đảm bảo và phát triển, nhờ đó đảm bảo cho hoạt động tài sản có được khả thi và có lợi nhuận.

Hoạt động ngân hàng mang lại tiện lợi, cơ hội đầu tư, tạo việc làm, thu nhập và lợi nhuận cho tổ chức và cá nhân. Mankiw – một trong những chuyên gia kinh tế hàng đầu của Mỹ nhận định, tiền tiết kiệm nội địa là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển bền vững và an toàn cho các nền kinh tế đang phát triển. Nhận định này định hướng cho các nhà kinh tế tập trung khơi dậy tiết kiệm nội địa cho đầu tư phát triển kinh tế trong nước hơn là chú trọng huy động nguồn lực đi vay từ quốc tế. Trong khuôn khổ đó, vai trò của ngân hàng rất quan trọng. Tính an toàn, tiện lợi, tạo ra nguồn lợi (tiền lãi) là những lợi ích chính mà hoạt động tài sản nợ ngân hàng có thể mang đến cho cộng đồng. Hơn nữa, tài trợ các ý tưởng kinh doanh, sản xuất, kết nối đối tác, xây dựng và tạo ra niềm tin cho khách hàng (hợp đồng bảo lãnh)… là hoạt động tài sản có (nội và ngoại bảng) mà ngân hàng cung ứng cho nền kinh tế.

Khối tài chính khổng lồ dưới dạng tiền nhàn rỗi tạm thời và lâu dài trong cộng đồng được ngân hàng, với niềm tin vững chắc, huy động cho đầu tư phát triển kinh tế quốc gia. Dịch vụ thanh toán online, thanh toán có bảo lãnh của ngân hàng, dịch vụ ứng dụng điện tử cho các nhu cầu thanh toán mang lại lợi ích to lớn cho cá nhân, tổ chức và cộng đồng. Dịch vụ tài sản có, tài trợ dự án ở các quy mô khác nhau, không những chuyển tích tụ tài chính nhỏ lẻ trong cộng đồng thực thi các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà máy, khu kinh tế, mà còn là kênh truyền dẫn đầu tư nước ngoài cho hợp tác phát triển kinh tế, quốc phòng quốc gia.

Với ý nghĩa lớn lao của hoạt động ngân hàng đối với nền kinh tế và vai trò của niềm tin vào ngân hàng từ cộng đồng, các ngân hàng luôn quan tâm xây dựng, nuôi dưỡng và phát triển uy tín, hình ảnh, thương hiệu và giá trị của mình. Là yếu tố cốt lõi trong cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế của mỗi ngân hàng.

Sức tàn phá của trạng thái mất niềm tin vào ngân hàng

Song hành với hệ thống ngân hàng phát triển bền vững là nền kinh tế năng động và tăng trưởng cao. Ngân hàng trở thành một ngành xương sống trong nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển. Ngược lại, sự thăng trầm, khó khăn của ngành ngân hàng luôn tác động mạnh tới tiến trình phát triển kinh tế quốc gia. Khó khăn ngân hàng ở mức độ nghiêm trọng không những ảnh hưởng tới nhịp độ phát triển kinh tế mà còn có khả năng ảnh hưởng tiêu cực tới ổn định xã hội và an toàn cho hệ thống chính trị.

Lịch sử phát triển ngân hàng toàn cầu cho thấy khó khăn trong kinh doanh ngân hàng đa dạng và ngày càng phức tạp. Trong đó, công chúng kém tin tưởng vào ngân hàng được đánh giá là khó khăn lớn mà không dễ ngân hàng nào cũng vượt qua. Tình trạng hạn chế tin tưởng vào ngân hàng không được giải quyết kịp thời và căn bản, sẽ phát sinh các khó khăn khác, bao gồm khó khăn thanh khoản, thanh toán, chi phí vốn tăng, rủi ro tài sản có tăng, chi phí quảng cáo tăng … Doanh thu, lợi nhuận, chất lượng tài sản nợ giảm sút nghiêm trọng là hệ quả khó tránh khỏi của tình trạng niềm tin từ công chúng đối với ngân hàng sụt giảm.

Sụt giảm niềm tin xảy ra ở từng ngân hàng đơn lẻ dễ được khắc phục và ảnh hưởng có thể được hạn chế. Tình huống xấu nhất cuối cùng là đóng cửa ngân hàng đơn lẻ đó. Mặt khác nếu tình trạng niềm tin đối với đại đa số ngân hàng của một nền kinh tế có biến động giảm lớn, đây thực sự là khó khăn không dễ vượt qua và sức ảnh hưởng của tình trạng này là nghiêm trọng. Phản ứng đầu tiên của công chúng khi không còn tin vào ngân hàng mình giao dịch là họ đột ngột rút tiền gửi từ ngân hàng đó. Khi hành động này diễn ra ở diện rộng, sẽ xảy ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi. Ngay lập tức ngân hàng đó sẽ đối diện với rủi ro thanh khoản và thanh toán. Đồng thời các ngân hàng khác trong cộng đồng cùng bị ảnh hưởng hiệu ứng đám đông, hậu quả mất thanh khoản hệ thống có thể sẽ sẩy ra. Với một chính phủ mạnh và có khả năng kêu gọi tài trợ từ cộng đồng quốc tế, khó khăn hệ thống dần được kiểm soát. Tiến trình này thực sự thách thức và chi phí lớn.

Chi phí tài chính một số cuộc khủng hoảng ngân hàng

(tính theo % GDP)

Nguồn: Honohan P., and Klingebiel D., (2000)

Lịch sử đối diện khó khăn của ngân hàng ở nhiều quốc gia trên toàn cầu cho thấy mức độ nghiêm trọng của khó khăn về sụt giảm niềm tin. Nhiều nền kinh tế đã chao đảo, đối diện khó khăn và chi phí lớn khi giải quyết khó khăn ngân hàng.

Bảo hiểm tiền gửi – giải pháp cho củng cố, duy trì và nâng cao niềm tin

Công cụ bảo hiểm tiền gửi (BHTG) được khởi xướng và chính thức áp dụng tại Mỹ từ 1/1/1934 tới nay. Kinh nghiệm và thành công của công cụ BHTG ở Mỹ đã nhanh chóng được khởi xướng ở nhiều quốc gia và châu lục trên toàn cầu. Tới nay, có trên 140 quốc gia và vùng lãnh thổ đã công khai triển khai công cụ BHTG. Hiệp hội BHTG quốc tế ra đời ngày 06/5/2002, đánh dấu sự thành công của công cụ BHTG trong nỗ lực giải quyết khó khăn ngân hàng, thúc đẩy phổ cập nhiều hơn và chuẩn hóa hoạt động BHTG.

 

Công cụ BHTG tham gia xử lý khó khăn ngân hàng ở Mỹ 2001-2018


Year

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

2016

2017

2018

Bank Failures

4

11

3

4

0

0

3

25

135

157

92

51

24

18

8

5

6

0

Total Assets (Millions)

2,358.6

2,705.4

1045.2

163.1

0

0

2,602.5

373,588.78

170,867.0

96,514.0

36,012.2

12,055.8

6,101.7

3,088.4

6,727.5

278.8

6,530.7

0

 

Nguồn: https://www.fdic.gov/bank/historical/bank/

Mức độ đóng góp của công cụ BHTG đối với giải quyết khó khăn ngân hàng nói chung, và khó khăn về giảm sút niềm tin nói riêng, ở các quốc gia khác nhau có sự khác nhau nhất định. Công cụ BHTG ở nền kinh tế Mỹ tới nay được khẳng định có thành công lớn trong giải quyết khó khăn ngân hàng. Một số thành công cơ bản của công cụ BHTG Mỹ có thể được tóm tắt như sau:

- Số lượng ngân hàng Mỹ đóng cửa từ khi có sự can thiệp của công cụ BHTG đã giảm đáng kể;

- Chấm dứt tình trạng người gửi tiền bị mất tiền gửi do ngân hàng khó khăn phải đóng cửa;

- Hoạt động ngân hàng được kiểm soát ở mức độ cao hơn, công tác kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng được bổ sung thêm sự giám sát của tổ chức BHTG Mỹ;

- Tình trạng đột biến rút tiền gửi đơn lẻ được kiểm soát tốt hơn, hạn chế nhiều đối với tình trạng phát sinh hiệu ứng dây chuyền đột biến rút tiền gửi;

- Khó khăn đơn lẻ của từng ngân hàng được tổ chức BHTG hỗ trợ, giải quyết hiệu quả; khó khăn hệ thống ngân hàng được kiểm soát tốt hơn;

- Nguồn lực giải quyết khó khăn ngân hàng được hình thành từ đóng góp của tất cả ngân hàng kinh doanh. Tiền thuế của cộng đồng không sử dụng cho giải quyết khó khăn ngân hàng; 

- Công cụ BHTG có tác dụng trực tiếp củng cố, duy trì và phát triển niềm tin của người gửi tiền đối với ngân hàng.

Thành công trong sử dụng công cụ BHTG giải quyết khó khăn ngân hàng được chứng minh ở Mỹ và một số nền kinh tế, như Hàn Quốc, Nhật Bản. Mặc dầu vậy, mức độ thành công tùy thuộc vào nội dung thiết kế chính sách BHTG. Những năm đầu triển khai hoạt động BHTG ở Nhật Bản, với thiết kế theo mô hình chức năng hạn chế, dường như công cụ BHTG không có tác dụng đích thực đối với giải quyết khó khăn ngân hàng. Việc cải tiến tích cực và tiên quyết, theo mô hình BHTG có chức năng mở rộng, cho phép công cụ BHTG Nhật Bản có đóng góp đáng kể giải quyết khó khăn ngân hàng trong những năm gần đây.

Huy động nguồn lực tài chính khổng lồ từ số lượng lớn người tham gia dịch vụ ngân hàng, như ở thị trường Mỹ, cho tới nay, hơn 80 năm hoạt động, công cụ BHTG ở Mỹ đảm bảo không có người gửi tiền nào bị mất tiền do khó khăn ngân hàng. Thực tiễn đó cho thấy sức mạnh của công cụ BHTG khi được thiết kế hợp lý và khoa học.

Để công cụ BHTG thực sự có được sức mạnh lớn như vậy, việc thiết kế nội dung chính sách BHTG đồng bộ và khoa học đóng vai trò quyết định. Cần mạnh dạn thiết kế theo hướng trao cho tổ chức triển khai chính sách BHTG chức năng giám sát mở rộng, bổ sung công cụ BHTG, là thành viên mạng lưới an toàn tài chính quốc gia, đảm nhận chức năng giám sát hoạt động ngân hàng đồng hành với nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền./.

 

TS. Nguyễn Thị Kim Oanh - Giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội,

 Nghiên cứu viên tại QUT, Australia

NCS. Nguyễn Tuấn Hùng - Giảng viên Học viện Ngân hàng

ThS. Triệu Lan Hươngcán bộ Chi nhánh BHTGVN tại TP. Hà Nội

 

Tài liệu tham khảo

Mankiw G. N. (1992), Marcroeconomics, Harvard University, Worth Publishers, 33 Irving Place, New York.

Honohan P., and Klingebiel D., (2000), Controlling Fiscal Costs of Banking Crises, The World Bank, tr.4.

FDIC (2018), https://www.fdic.gov/bank/historical/bank/

https://www.forbes.com/lists/2008/11/biz_powerwomen08_Sheila-C-Bair_0R5X.html và https://www.forbes.com/lists/2009/11/power-women-09_The-100-Most-Powerful-Women_Rank.html

https://www.iadi.org/en/deposit-insurance-systems/dis-worldwide/