Những giải pháp thiết thực đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh

08:00-26/04/2019

Bên cạnh điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động trong môi trường ổn định, chủ động trong xây dựng và triển khai kế hoạch kinh doanh, ngành ngân hàng đã quyết liệt triển khai các biện pháp hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tăng khả năng tiếp cận tín dụng, đáp ứng nhu cầu về vốn phát triển sản xuất kinh doanh.

Nhóm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp

Thực hiện các Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết 19/NQ-CP (2014, 2016, 2018) và Nghị Quyết 02/NQ-CP (ngày 01/01/2019) về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng, tập trung triển khai quyết liệt 6 nhóm giải pháp nhằm cải thiện chỉ số tiếp cận tín dụng, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp trên cơ sở bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Cụ thể, Quyết định số 259/QĐ-NHNN ngày 28/02/2017 quy định 6 nhóm giải pháp: (i) Giải pháp cải thiện và minh bạch hóa thông tin tín dụng; (ii) Giải pháp cải thiện chỉ số chiều sâu quyền pháp lý và chiều sâu thông tin tín dụng nhằm nâng cao chỉ số tiếp cận tín dụng; (iii) Xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển các dịch vụ tài chính – ngân hàng; (iv) Giải pháp nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng; (v) Giải pháp đơn giản hóa và hiện đại hóa thủ tục hành chính nhằm giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong giao dịch hành chính với NHNN, tổ chức tín dụng (TCTD); (vi) Các giải pháp hỗ trợ khác.

Với việc đề ra các giải pháp trên, thời gian qua, NHNN đã quyết liệt triển khai các biện pháp hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tăng khả năng tiếp cận tín dụng, đáp ứng nhu cầu về vốn phát triển sản xuất kinh doanh.

Ổn định mặt bằng lãi suất, tỷ giá hỗ trợ doanh nghiệp

NHNN đã điều hành đồng bộ và linh hoạt các công cụ CSTT để ổn định thị trường tiền tệ, tỷ giá, ngoại tệ và kiểm soát lạm phát luôn duy trì ở mức thấp hơn mục tiêu do Quốc hội đề ra (khoảng 4%), góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Trong bối cảnh ngày càng nhiều yếu tố gây áp lực tăng lãi suất, NHNN chủ động điều tiết tiền tệ, hỗ trợ thanh khoản, lãi suất liên ngân hàng ở mức thấp tạo điều kiện ổn định lãi suất của các TCTD. Chỉ đạo các TCTD cân đối vốn hợp lý, tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh để có điều kiện phấn đấu giảm lãi suất cho vay, đồng thời điều chỉnh tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn giảm dần theo lộ trình góp phần giảm áp lực lãi suất cho các TCTD.

Từ đầu năm 2019 đến nay, để tiếp tục góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, NHNN tiếp tục điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, thị trường tiền tệ, nhờ đó, mặt bằng lãi suất thị trường cơ bản ổn định. Cụ thể là: (i) Giữ nguyên các mức lãi suất điều hành của NHNN (lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng 7,25%/năm, lãi suất tái cấp vốn 6,25%/năm, lãi suất tái chiết khấu 4,25%/năm); (ii) Giữ nguyên lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của các TCTD đối với các lĩnh vực ưu tiên là nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 6,5%/năm; (iii) Giữ nguyên lãi suất tối đa bằng VND đối với tiền gửi có kỳ hạn dưới 6 tháng (1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng). Hiện lãi suất cho vay của các TCTD phổ biến khoảng 6-9%/năm đối với ngắn hạn, trung và dài hạn khoảng 9-11%/năm.

Đặc biệt, tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2019, hưởng ứng lời kêu gọi của Thống đốc NHNN, 4 ngân hàng thương mại: Vietcombank, Agribank, Vietinbank và BIDV thông báo sẽ giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ cho các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực ưu tiên. Theo đó, Vietcombank áp dụng lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam ở mức tối đa là 6%/năm, tương đương giảm 0,5% so với mức trần quy định của NHNN, áp dụng cho tất cả các khoản cho vay đang còn dư nợ và các khoản cho vay mới phát sinh trong năm 2019, giảm đồng loạt 0,5%/năm trong năm 2019 đối với các khoản vay trung dài hạn VNĐ hiện tại của doanh nghiệp; Agribank, Vietinbank và BIDV cam kết giảm 0,5% lãi suất cho vay đối với 5 lĩnh vực ưu tiên cho tất cả các kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn.

NHNN cũng thực hiện điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp diễn biến thị trường, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động trong môi trường ổn định, chủ động trong xây dựng và triển khai kế hoạch kinh doanh, phòng ngừa rủi ro tỷ giá.

Đảm bảo cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế

NHNN xây dựng định hướng tăng trưởng tín dụng hàng năm, có sự điều chỉnh theo thực tế, đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, nhằm đảm bảo cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế, góp phần đạt được mục tiêu về tăng trưởng kinh tế và lạm phát do Quốc hội đề ra.

Theo đó, NHNN đã thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đến từng TCTD trên cơ sở đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tăng trưởng tín dụng lành mạnh, đặc biệt trong năm 2019 ưu tiên chỉ tiêu cao hơn đối với TCTD thực hiện trước thời hạn các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016.

Chỉ đạo TCTD nâng cao chất lượng tín dụng; tập trung phân bổ tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân. Kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán…; tăng cường quản lý rủi ro đối với các dự án BOT, BT giao thông.

Rà soát, kịp thời đề xuất hoàn thiện các chính sách tín dụng đối với ngành, lĩnh vực để phù hợp hơn với nhu cầu vốn của người dân, doanh nghiệp như: (i) Trình Chính phủ ban hành Nghị định 116 sửa đổi, bổ sung Nghị định 55 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với nhiều điểm mới đột phá, (ii) Ban hành văn bản hướng dẫn các TCTD cho vay có bảo lãnh của Quỹ Bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) nhằm triển khai Luật DNNVV...; đồng thời chỉ đạo các TCTD tích cực triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù như: Cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, cho vay công nghiệp hỗ trợ, cho vay hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp, cho vay đối với ngành lúa gạo, chăn nuôi,...

Đặc biệt, ngành ngân hàng đã quyết liệt triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi, tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng của người dân và doanh nghiệp.

NHNN đã chỉ đạo các TCTD đổi mới quy trình, rút ngắn thời gian giải quyết cho vay theo hướng bãi bỏ các thủ tục hành chính không phù hợp, nâng cao khả năng thẩm định, giải quyết nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp nhanh, gọn song vẫn đảm bảo an toàn vốn vay; đồng thời, cắt giảm các khoản phí, chi phí không cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, ngân hàng kịp thời thực hiện các giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp khắc phục khó khăn do thiên tai, bão lụt, dịch bệnh và một số nguyên nhân bất khả kháng khác.

Bên cạnh đó, NHNN chỉ đạo các TCTD xây dựng quy trình thu thập, khai thác thông tin về đánh giá tín nhiệm, hoạt động của khách hàng để nâng cao hiệu quả thẩm định và đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng vay, qua đó tăng cường khả năng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản nhằm giải quyết khó khăn về tài sản đảm bảo, thúc đẩy hoạt động kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thời gian qua, ngành ngân hàng đã phối hợp với các cấp chính quyền địa phương đẩy mạnh triển khai Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp trên toàn quốc, gắn với nhiệm vụ trọng tâm và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương. Thông qua việc triển khai các hội nghị kết nối đối thoại trực tiếp để nhận diện khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp,  từ đó có giải pháp tháo gỡ phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng với ngân hàng.

Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai các chương trình, chính sách tín dụng nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng.

Tín dụng tăng trưởng hiệu quả

Nhờ triển khai đồng bộ các chính sách nêu trên, tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế trong những năm gần đây được duy trì ở mức khá cao (2015- 2017 đạt 18-19%, 2018 đạt gần 14%). Cơ cấu tín dụng tiếp tục dịch chuyển vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh là động lực của tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng tín dụng đã góp phần hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế, đặc biệt năm 2018 tăng trưởng kinh tế đạt 7,08% - cao nhất trong 11 năm trở lại đây.

3 tháng đầu năm 2019, dư nợ tín dụng nền kinh tế tiếp tục tăng khoảng 2,8% so với cuối năm 2018. Nguồn vốn tín dụng tiếp tục được đẩy mạnh, tập trung cho các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Theo báo cáo của Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN), đến cuối tháng 3/2019, dư nợ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn ước tăng 2% so với cuối năm 2018 và chiếm khoảng 25% dư nợ nền kinh tế. Đến cuối tháng 2/2019, dư nợ đối với DNNVV đạt trên 1,3 triệu tỷ đồng và chiếm gần 18% tổng dư nợ toàn nền kinh tế; Dư nợ tín dụng cho lĩnh vực xuất khẩu tăng 3,5% so với cuối năm 2018 và chiếm tỷ trọng 3,1% tín dụng nền kinh tế; Dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 3,63% so với cuối năm 2018 và chiếm tỷ trọng 3,1% tín dụng toàn nền kinh tế; Dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 7,5% so với cuối năm 2018 và chiếm tỷ trọng 0,38% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Nhờ sự quan tâm, phối hợp chặt chẽ của cấp ủy chính quyền địa phương các cấp, từ năm 2014 đến nay, ngành ngân hàng đã tổ chức trên 1.500 buổi gặp gỡ, đối thoại với doanh nghiệp, qua đó đã tháo gỡ khó khăn cho gần 195.000 doanh nghiệp, với tổng số tiền các ngân hàng cam kết cho vay mới đạt gần 2.500.000 tỷ đồng với lãi suất cho vay phổ biến ở mức 6-9%/năm đối với các khoản vay ngắn hạn, 9-11%/năm đối với các khoản vay trung, dài hạn. Ngoài ra, các TCTD thực hiện các hình thức hỗ trợ giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh như gia hạn nợ, cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ, nâng hạn mức tín dụng, điều chỉnh giảm lãi suất cho các khoản vay cũ của khách hàng. Riêng trong năm 2018, trên 420 buổi gặp gỡ, đối thoại giữa ngân hàng và doanh nghiệp đã được tổ chức trên toàn quốc, giải ngân gần 900.000 tỷ đồng cho trên 50.000 doanh nghiệp và một số đối tượng khác; thực hiện gia hạn nợ, cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ, giảm lãi suất cho gần 60.000 tỷ đồng đối với các khoản vay cũ cho gần 3.300 doanh nghiệp và một số khách hàng khác.

Các TCTD đã đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV.

Những vướng mắc cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả đạt được, việc triển khai các chương trình, chính sách cho vay đối với doanh nghiệp còn một số khó khăn.

Trước hết, xuất phát từ những khó khăn chung của kinh tế trong nước cũng như nền kinh tế toàn cầu, thị trường đầu ra thiếu ổn định trong khi các vấn đề biến đổi khí hậu, thiên tai, lũ lụt đã tác động tiêu cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và thu nhập của doanh nghiệp, đã hạn chế khả năng tiếp cận vốn vay của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của các TCTD.

Bên cạnh đó, công tác cải cách thủ tục hành chính và các hoạt động hỗ doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh tại một số địa phương chưa đạt được hiệu quả cao, phần nào ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng của DN; công tác xử lý tài sản đảm bảo tiền vay khi khách hàng không trả được nợ vay ngân hàng gặp nhiều khó khăn do trình tự, thủ tục liên quan đến khởi kiện, thi hành án để xử lý tài sản đảm bảo còn bất cập dẫn đến tâm lý thận trọng hơn trong cho vay của các TCTD.

Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt DNNVV chưa đáp ứng được điều kiện vay vốn do: (i) Năng lực tài chính còn hạn chế, thiếu vốn đối ứng; dự án, phương án sản xuất kinh doanh thiếu khả thi, khả năng hoàn vốn thấp, công tác hạch toán kế toán thiếu chuyên nghiệp, thông tin tài chính thiếu minh bạch, trong khi lại thiếu tài sản đảm bảo ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng. (ii) Phần lớn các DNNVV có quy mô nhỏ, trình độ quản lý và áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất kinh doanh còn hạn chế; hoạt động mang tính tự phát, thiếu kế hoạch, chiến lược cụ thể; sức chịu đựng rủi ro thấp, khả năng chống đỡ kém trước biến động của kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng trả nợ ngân hàng của DN; (iii) Các cơ chế hỗ trợ tiếp cận vốn cho DNNVV thông qua bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương, hỗ trợ vốn của Quỹ phát triển DNNVV thời gian qua chưa thực sự phát huy hiệu quả.

Tiếp tục hỗ trợ nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp

Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả của các chương trình tín dụng đặc thù nhằm hỗ trợ DN, kịp thời tháo gỡ khó khăn và đáp ứng nhu cầu vốn vay cho sản xuất kinh doanh của DN, ngành ngân hàng sẽ tập trung vào một số giải pháp:

Một là, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt góp phần kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp; tiếp tục triển khai quyết liệt các nhiệm vụ và giải pháp tại Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo Nghị quyết 35, 19/NQ-CP và Nghị quyết 02, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.

Hai là, thực hiện các giải pháp hỗ trợ TCTD mở rộng tín dụng có hiệu quả, chú trọng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng.

Ba là, tiếp tục thường xuyên phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương các tỉnh, thành phố trong việc triển khai các chương trình cho vay; tích cực triển khai chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp để cùng với chính quyền các địa phương trực tiếp tháo gỡ đồng bộ những khó khăn, vướng mắc của DN trong quan hệ tín dụng với ngân hàng.

Bốn là, chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh triển khai các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN; tiếp tục rà soát, cải tiến quy trình cho vay, thủ tục vay vốn, nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, tạo điều kiện cho DN tiếp cận vốn nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn vay; đồng thời, khuyến khích các TCTD phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp cũng như các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, các sản phẩm phòng ngừa rủi ro lãi suất và tỷ giá nhằm giúp DN chủ động về vốn, tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro.

Năm là, tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương trong: (i) xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách và triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực, tín dụng chính sách theo chủ trương của Chính phủ; (ii) hoàn thiện và triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ DNNVV được quy định trong Luật hỗ trợ DNNVV và các văn bản hướng dẫn Luật, đặc biệt là chính sách về bảo lãnh tín dụng cho DNNVV vay vốn TCTD, hỗ trợ vốn thông qua Quỹ phát triển DNNVV.

Hà Anh

Các tin đã đăng