Một số hành vi bị cấm trong sử dụng Ví điện tử

09:19-19/04/2019

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang lấy ý kiến cho dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2014/TT-NHNN hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán (TGTT).

Dự thảo Thông tư sửa đổi quy định để làm rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Theo đó, phạm vi và đối tượng điều chỉnh của Thông tư là các tổ chức không phải là ngân hàng (non-banks) cung ứng dịch vụ Ví điện tử; không bao gồm trường hợp các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong vai trò là tổ chức phát hành Ví điện tử.

Sửa đổi quy định về định nghĩa TKĐBTT, phù hợp hơn với thực tế triển khai các dịch vụ TGTT. Theo đó, việc mở TKĐBTT chỉ áp dụng với các dịch vụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán (không phải tất cả các dịch vụ TGTT) và TKĐBTT có thể được mở tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (không chỉ là ngân hàng thương mại như Thông tư số 39/2014/TT-NHNN hiện nay), tuân thủ quy định hiện hành về hướng dẫn mở và sử dụng tài khoản thanh toán.

Quy định về việc sử dụng Giấy phép nhằm tăng cường trách nhiệm của các tổ chức đã được cấp phép, tránh việc các tổ chức này cung ứng dịch vụ không đúng với phạm vi, đối tượng, bản chất dịch vụ đã được cấp phép cũng được sửa đổi, bổ sung. “Tổ chức được cấp Giấy phép chỉ được thực hiện cung ứng các dịch vụ TGTT ghi trong Giấy phép theo đúng phạm vi, đối tượng, bản chất dịch vụ theo quy định của pháp luật”.

Đáng chú ý, Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung quy định về các hành vi bị cấm nhằm ngăn chặn việc lợi dụng dịch vụ Ví điện tử, Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT để tổ chức hoặc tham gia thực hiện các hoạt động rửa tiền, lừa đảo, gian lận và các hoạt động vi phạm quy định của pháp luật khác, cụ thể: Sử dụng Ví điện tử để thực hiện các giao dịch cho các mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, lừa đảo, gian lận và các hành vi vi phạm pháp luật khác; Mua, bán, thuê, cho thuê, chuyển nhượng Ví điện tử hoặc thông tin Ví điện tử, mở hộ Ví điện tử; Mở hoặc duy trì Ví điện tử nặc danh, mạo danh; Làm giả, tẩy xóa, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn Giấy phép; ủy thác, giao đại lý cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện hoạt động được phép theo Giấy phép; Lợi dụng việc cung ứng dịch vụ được cấp phép để tổ chức hoặc tham gia thực hiện các hoạt động vi phạm pháp luật.

Về biện pháp đảm bảo khả năng thanh toán, dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung theo hướng như sau:

Đối với dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ: Thông tư số 39/2014/TT-NHNN hiện nay quy định tổ chức TGTT phải đảm bảo khả năng thanh toán đối với việc cung ứng dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ tương tự như dịch vụ Ví điện tử (bao gồm: Mở và duy trì số dư TKĐBTT, giới hạn mục đích sử dụng TKĐBTT). Tuy nhiên, qua nghiên cứu, giám sát, trong thực tế khi cung ứng dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ, bên cạnh việc mở và duy trì số dư TKĐBTT, tổ chức TGTT và ngân hàng có thể thỏa thuận một số biện pháp đảm bảo khả năng thanh toán khác như: Ký quỹ hoặc các biện pháp đảm bảo khác. Do đó, để phù hợp hơn với thực tế, dự thảo Thông tư sửa đổi theo hướng cho phép tổ chức cung ứng dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ được chủ động thỏa thuận với ngân hàng về các biện pháp đảm bảo khả năng thanh toán cho việc cung ứng dịch vụ này; tuy nhiên, ngân hàng vẫn là đơn vị chịu trách nhiệm cuối cùng đối với việc đảm bảo khả năng thanh toán cho các đơn vị chấp nhận thanh toán.

Đối với dịch vụ Ví điện tử: Do thời điểm các ngân hàng thực hiện hạch toán trên TKĐBTT của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử đối với giao dịch nạp tiền vào Ví điện tử không đồng thời với thời điểm tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử ghi tăng Ví điện tử của khách hàng, nên các tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử gặp khó khăn trong việc vừa đảm bảo sử dụng TKĐBTT đúng mục đích, vừa tuân thủ quy định về tổng số dư TKĐBTT không nhỏ hơn tổng số dư Ví điện tử tại mọi thời điểm. Do đó, để tạo thuận lợi cho tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử, dự thảo Thông tư quy định tổng số dư trên TKĐBTT cho dịch vụ Ví điện tử phải được duy trì không thấp hơn so với tổng số dư của tất cả các Ví điện tử của các khách hàng tại thời điểm kết thúc ngày giao dịch.

Bên cạnh đó, Dự thảo Thông tư quy định cụ thể mục đích sử dụng TKĐBTT cho dịch vụ Ví điện tử, việc tổ chức cung ứng dịch vụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán phải thỏa thuận với ngân hàng hợp tác về việc trả lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cho số dư TKĐBTT (nếu có) và việc trả, thu các khoản phí phát sinh phải tách bạch với việc sử dụng TKĐBTT.

Bổ sung quy định chi tiết về hồ sơ mở Ví điện tử của khách hàng (cá nhân, tổ chức); trường hợp cá nhân đăng ký mở Ví điện tử có tài khoản thanh toán mở thông qua người giám hộ, người đại diện theo pháp luật; các biện pháp xác thực thông tin khách hàng mở Ví điện tử và việc liên kết Ví điện tử của khách hàng với tài khoản thanh toán (hoặc thẻ ghi nợ) tại ngân hàng. Phần điều khoản chuyển tiếp cũng quy định tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử phải rà soát hồ sơ khách hàng mở Ví điện tử được mở trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành và thực hiện thu thập bổ sung các thông tin, tài liệu của khách hàng, xác thực thông tin khách hàng mở Ví điện tử theo quy định tại Thông tư này trong vòng 06 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.

Dự thảo Thông tư quy định cụ thể về việc sử dụng Ví điện tử, hạn mức giao dịch đối với Ví điện tử của cá nhân và tổ chức, nhằm giảm thiểu rủi ro về lợi dụng Ví điện tử để rửa tiền, thực hiện các hoạt động bất hợp pháp, phù hợp với mục đích sử dụng dịch vụ Ví điện tử là phục vụ thanh toán các giao dịch nhỏ, lẻ.

Tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử không được phép phát hành hơn 01 (một) Ví điện tử cho 01 (một) khách hàng tại 01 tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử, nhằm tránh lãnh phí, ngăn ngừa tình trạng khách hàng đăng ký mở Ví điện tử tràn lan, dẫn đến việc sử dụng Ví điện tử là không thực chất hoặc hành vi lợi dụng mở nhiều Ví điện tử để thực hiện các hành vi rửa tiền, bất hợp pháp.

Công cụ giám sát trực tuyến đối với dịch vụ Ví điện tử, nhằm hướng dẫn thống nhất cho các tổ chức thực hiện và bổ sung, làm rõ thêm các thông tin NHNN cần truy vấn, thu thập trên công cụ giám sát trực tuyến cũng được quy định cụ thể hơn. Phần điều khoản chuyển tiếp cũng quy định về việc tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử phải bổ sung, hoàn thiện công cụ để NHNN giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử theo quy định tại khoản 6 Điều 1 Thông tư này trong vòng 03 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.

Quyền của ngân hàng cũng được bổ sung trong Dự thảo Thông tư nhằm tạo điều kiện cho ngân hàng trong việc quản lý TKĐBTT cho dịch vụ Ví điện tử. Theo đó, “ ngân hàng có thể từ chối thực hiện giao dịch nếu tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử không sử dụng đúng mục đích TKĐBTT quy định tại Điều 8 Thông tư này”.

Bổ sung nhằm làm rõ trách nhiệm của ngân hàng trong việc quản lý việc đảm bảo khả năng thanh toán của các tổ chức cung ứng dịch vụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán, nhằm tránh rủi ro thanh khoản xảy ra, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng và uy tín của chính ngân hàng.

Ngoài ra, dự thảo Thông tư bổ sung, làm rõ hơn vai trò, trách nhiệm của ngân hàng (đặc biệt trong việc quản lý các đơn vị chấp nhận thanh toán) trong mô hình ngân hàng trực tiếp phát triển đơn vị chấp nhận thanh toán và hợp tác tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT. Quy định này nhằm tăng cường hơn trách nhiệm của ngân hàng khi phát triển các đơn vị chấp nhận thanh toán, hạn chế các rủi ro từ các đơn vị chấp nhận thanh toán (như: gian lận hoặc có hành vi cung cấp hàng hóa/dịch vụ trái quy định pháp luật).

PV