
PV: Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động dựa trên nguyên tắc tương trợ giữa các thành viên. Vậy bảo hiểm tiền gửi có ý nghĩa như thế nào với một tổ chức như quỹ của ông?
Ông Nguyễn Đức Huy: Với quỹ tín dụng nhân dân (QTDND), bảo hiểm tiền gửi (BHTG) rất quan trọng bởi người gửi tiền ở đây không phải khách hàng theo nghĩa thông thường, họ chính là thành viên của quỹ. Bà con gửi vào quỹ không chỉ là tiền tiết kiệm tích lũy được sau một vụ mận, một lứa bò, mà nhiều khi đó là toàn bộ vốn liếng để chuẩn bị cho vụ sản xuất tiếp theo, cho con đi học, cho lúc ốm đau. Nếu không có một cơ chế bảo vệ rõ ràng, đứng đằng sau, thì lòng tin của bà con vào mô hình quỹ tín dụng sẽ rất mong manh.
Tôi còn nhớ những năm cuối thập niên 1990, khi hàng loạt quỹ tín dụng trên cả nước đổ vỡ, dư âm của nó để lại rất lâu trong tâm lý người dân. Thế hệ lãnh đạo quỹ đi trước chúng tôi đã phải gây dựng lại niềm tin đó từ con số không, bằng chính uy tín và sự minh bạch trong từng đồng vốn cho vay, từng lần chi trả đúng hạn. Sau đó, BHTG ra đời chính là một lớp bảo vệ bổ sung cho hành trình gây dựng niềm tin ấy với thông điệp, dù chuyện gì xảy ra, có một cơ chế của Nhà nước đứng sau bảo vệ đồng tiền họ gửi vào quỹ.
PV: Với hơn 10.000 thành viên, phần lớn là nông dân và đồng bào dân tộc thiểu số, việc giải thích một chính sách tài chính như BHTG chắc không đơn giản?
Ông Nguyễn Đức Huy: Đúng là không đơn giản, vì vậy, chúng tôi luôn tìm cách làm tốt hơn mỗi ngày. Bà con ở đây thường không quen với những thuật ngữ như “hạn mức chi trả” hay “tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi”. Nếu cán bộ tín dụng cứ đọc đúng nguyên văn quy định, bà con sẽ nghe nhưng không hiểu.
Cách chúng tôi vẫn làm là quy đổi ra ví dụ thực tế, gắn với đời sống của chính bà con. Ví dụ khi giải thích về hạn mức bảo hiểm, cán bộ tín dụng sẽ nói cụ thể: nếu nhà mình gửi khoản tiền bán mận vụ này vào quỹ, giả sử có chuyện gì xảy ra, thi nhà mình vẫn được nhận lại theo quy định. Nói theo cách đó bà con sẽ thấy được sự liên quan trực tiếp đến hoàn cảnh của mình.
Một điều nữa, ở vùng chúng tôi, niềm tin truyền miệng khá quan trọng, một người gửi tiền yên tâm, kể lại cho hàng xóm, cho người trong bản…
PV: Ông đánh giá thế nào về Luật BHTG năm 2025, đặc biệt là từ góc nhìn của một QTDND ở cơ sở?
Ông Nguyễn Đức Huy: Luật lần này tiếp tục khẳng định QTDND là đối tượng phải tham gia BHTG, với những quy định phù hợp đặc thù của mô hình hợp tác xã tín dụng. Điều này rất có ý nghĩa, vì QTDND có quy mô, cách thức huy động vốn và đối tượng phục vụ khác hẳn ngân hàng thương mại.
Mặt khác, việc Luật mới chuyển thẩm quyền quy định hạn mức trả tiền bảo hiểm từ Thủ tướng Chính phủ sang Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, theo tôi, có ý nghĩa lớn, kể cả với những thành viên ở vùng nông thôn miền núi như chúng tôi. Hạn mức hiện nay là 125 triệu đồng, được quy định từ năm 2021, trong khi mấy năm gần đây sản xuất hàng hóa ở vùng chúng tôi phát triển khá tốt, từ chăn nuôi đến trồng cây ăn quả, nên không ít gia đình thành viên có những khoản tiền gửi vượt xa mức đó sau một vụ thu hoạch thuận lợi. Cơ chế phân cấp này giúp việc điều chỉnh hạn mức có thể diễn ra nhanh hơn, bám sát thực tế đời sống hơn, thay vì để hạn mức cũ tồn tại quá lâu so với biến động giá cả và thu nhập của bà con. Tôi được biết hạn mức mới đang được nghiên cứu xây dựng để trình ban hành, và khi có quyết định chính thức, chúng tôi sẽ thông tin ngay đến toàn thể thành viên của quỹ.
Tôi cũng quan tâm quy định mới về việc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) tham gia sớm hơn vào quá trình kiểm soát đặc biệt. Với một QTDND quy mô nhỏ, nếu gặp khó khăn mà phải chờ đến giai đoạn cuối mới có cơ quan chuyên môn vào hỗ trợ, thì nhiều khi đã quá muộn. Có một cơ chế cho phép phát hiện sớm, hỗ trợ sớm, sẽ giúp những QTDND như chúng tôi an tâm hơn trong quá trình hoạt động, đặc biệt là những quỹ ở địa bàn khó khăn, ít có điều kiện tiếp cận chuyên gia tư vấn như ở thành phố.
PV: Theo ông, đâu là thách thức lớn nhất khi đưa Luật BHTG 2025 vào thực tiễn tại các QTDND ở vùng sâu, vùng xa?
Ông Nguyễn Đức Huy: Theo tôi, thách thức lớn nhất là khoảng cách giữa tốc độ ban hành chính sách và tốc độ tiếp cận thông tin của bà con. Ở thành phố, người dân có thể đọc báo, xem tin tức trên điện thoại, cập nhật ngay khi có quy định mới. Còn ở những địa bàn như chúng tôi, nhiều thành viên lớn tuổi không dùng điện thoại thông minh, nguồn thông tin chủ yếu vẫn là qua loa truyền thanh xã, qua các buổi sinh hoạt cộng đồng, hoặc trực tiếp từ cán bộ quỹ.
Một thách thức khác là nhân lực. Cán bộ tín dụng ở quỹ chúng tôi vừa phải làm chuyên môn nghiệp vụ, vừa phải kiêm luôn vai trò người giải thích chính sách, mà bản thân không phải ai cũng được tập huấn đầy đủ và liên tục về những thay đổi của Luật. Nếu BHTGVN hoặc Ngân hàng Hợp tác xã có thể tổ chức tập huấn định kỳ, sát với thực tế QTDND, tôi tin việc triển khai sẽ hiệu quả hơn nhiều.
PV: Vậy Quỹ tín dụng của ông đang làm gì để khắc phục những khó khăn đó?
Ông Nguyễn Đức Huy: Chúng tôi tận dụng chính những buổi đại hội thành viên để mời Chi nhánh BHTGVN tới dự, kết hợp truyền thông về BHTG; hay những lần thành viên đến quỹ giao dịch, để truyền tải dần dần.
Chúng tôi cũng có một lợi thế là đội ngũ cán bộ gắn bó lâu năm với địa bàn, hiểu phong tục, hiểu cách nói chuyện phù hợp với từng nhóm thành viên, kể cả những thành viên là đồng bào dân tộc thiểu số chưa thông thạo tiếng Việt để chuyển hóa nội dung các quy định thành lời nói gần gũi, dễ hiểu.
Rất mong BHTGVN luôn đồng hành với các QTDND để đẩy mạnh truyền thông chính sách BHTG, đưa chính sách đến với bà con một cách gần gũi, dễ hiểu nhất.
PV: Đối với những thành viên đang gửi tiền tại QTDND, ông muốn nhắn gửi điều gì?
Ông Nguyễn Đức Huy: Đồng tiền của bà con gửi vào quỹ, dù lớn dù nhỏ, đều được pháp luật bảo vệ; và Quỹ chúng tôi coi đó còn là một lời hứa phải giữ gìn vì đó là tình làng nghĩa xóm bao năm qua. Bà con có gì chưa rõ về quyền lợi của mình, cứ hỏi thẳng cán bộ quỹ, đừng ngại. Hiểu rõ quyền lợi của mình cũng là một cách bà con tự bảo vệ đồng vốn mình làm ra.
PV: Trân trọng cảm ơn ông!
Diệu An (thực hiện)




