Chi nhánh BHTGVN khu vực Tây Bắc Bộ quản lý địa bàn 8 tỉnh gồm Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Lai Châu và Cao Bằng với 100 QTDND (năm 2024).
Hệ thống QTDND trên địa bàn duy trì đà tăng trưởng ổn định với tổng nguồn vốn tăng từ 11.698 tỷ đồng (năm 2020) lên 17.391 tỷ đồng (năm 2024), tương ứng tăng 48,7%; dư nợ cho vay đạt hơn 14.074 tỷ đồng năm 2024; tỷ lệ nợ xấu giảm từ 0,54% xuống 0,4% trong cùng giai đoạn, phản ánh chất lượng tín dụng được kiểm soát tốt; lợi nhuận đạt 154,6 tỷ đồng năm 2024. Tuy nhiên, khoảng 63% QTDND vẫn thuộc quy mô vừa và nhỏ, với tổng nguồn vốn từ 50 đến 200 tỷ đồng, cho thấy năng lực quản trị tài chính còn hạn chế.

Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra QTDND của Chi nhánh BHTGVN khu vực Tây Bắc Bộ trong tình hình mới" được thực hiện để đánh giá thực trạng, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, phát hiện sớm rủi ro tiềm ẩn, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và góp phần ổn định hoạt động hệ thống tổ chức tín dụng.
Thực trạng công tác kiểm tra QTDND tại Chi nhánh BHTGVN khu vực Tây Bắc Bộ giai đoạn năm 2020 – 2024
Giai đoạn 2020-2024, Chi nhánh đã thực hiện 152 cuộc kiểm tra, hoàn thành 100% kế hoạch hằng năm, trong đó, số cuộc kiểm tra theo yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tăng từ 3 cuộc (năm 2020) lên 7 cuộc (năm 2024). Thông qua công tác kiểm tra đã góp phần phát hiện, cảnh báo kịp thời các vi phạm, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và hỗ trợ duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính – ngân hàng. Tuy nhiên, thực tiễn kiểm tra vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần tiếp tục được khắc phục.
Về kiểm tra định kỳ theo kế hoạch của BHTGVN:
Đối với việc niêm yết Chứng nhận tham gia BHTG, tỷ lệ vi phạm giảm từ 76,92% (năm 2021) xuống 0% (năm 2024), cho thấy ý thức chấp hành của các QTDND đã được cải thiện.
Đối với việc tính và nộp phí BHTG, ghi nhận chuyển biến tích cực khi số đơn vị thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tăng dần qua các năm, từ 3 QTDND (năm 2020) lên 13 QTDND (năm 2024), tuy một số sai sót vẫn phát sinh trong công tác hạch toán, kế toán.
Trong khí đó, việc nhận tiền gửi được bảo hiểm với tỷ lệ vi phạm còn cao. Các sai sót chủ yếu liên quan đến thiếu hồ sơ, chứng từ kế toán, chữ ký, thông tin khách hàng và chưa cập nhật quy định mới.
Kết quả kiểm tra theo yêu cầu của NHNN đối với các hoạt động cốt lõi của QTDND như quản lý ấn chỉ, huy động vốn, cho vay, giới hạn an toàn) cho thấy tỷ lệ vi phạm vẫn ở mức cao qua các năm. Các vi phạm phổ biến gồm chậm ban hành quy định nội bộ; hồ sơ tín dụng chưa đầy đủ; phân loại tài sản chưa chính xác; hạch toán ấn chỉ chưa đúng quy định. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc chưa kịp thời cập nhật văn bản quy định, hạn chế về nghiệp vụ và công tác kiểm soát nội bộ.
Tỷ lệ QTDND chưa thực hiện đầy đủ kiến nghị sau kiểm tra còn ở mức cao. Vẫn còn tình trạng tái diễn vi phạm, đặc biệt trong lĩnh vực huy động tiền gửi.
Những tồn tại trên xuất phát từ hai nhóm nguyên nhân chính. Về chủ quan, lực lượng cán bộ kiểm tra còn mỏng, địa bàn quản lý rộng, trong khi cơ chế theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kiến nghị sau kiểm tra và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêu cầu. Về khách quan, phần lớn QTDND có quy mô nhỏ với năng lực quản trị hạn chế, hạ tầng giao thông miền núi khó khăn; đồng thời một số văn bản pháp lý chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn.

Đoàn kiểm tra Chi nhánh BHTGVN khu vực Tây Bắc Bộ công bố quyết định kiểm tra tại QTDND xã Vân Du
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra QTDND trong thời gian tới
Thứ nhất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trước hết, cần tổ chức đào tạo chuyên sâu về phân tích tài chính, quản trị rủi ro và pháp luật ngân hàng cho toàn bộ cán bộ kiểm tra. Bên cạnh đó, chuyên môn hóa đội ngũ theo từng mảng nghiệp vụ (kiểm toán công nghệ thông tin, pháp chế, phân tích tài chính). Xây dựng cơ chế phiếu khảo sát chất lượng kiểm tra từ phía QTDND để làm căn cứ thi đua và đánh giá nhân sự.
Thứ hai, hiện đại hóa phương tiện và công cụ kiểm tra. Do đặc thù địa bàn miền núi, cần ưu tiên trang bị máy tính xách tay cấu hình cao, bộ phát sóng viễn thông và máy in di động để đảm bảo khả năng làm việc linh hoạt. Đồng thời, triển khai phần mềm phân tích dữ liệu tài chính, hệ thống giám sát trực tuyến và lưu trữ hồ sơ điện tử nhằm giảm thao tác thủ công và tăng độ chính xác. Ban hành Sổ tay công tác kiểm tra và biểu mẫu thống nhất để đảm bảo tính nhất quán toàn hệ thống.
Thứ ba, tăng cường cơ chế phối hợp giám sát từ xa – kiểm tra tại chỗ. Xây dựng quy trình phối hợp khép kín 3 bước: (i) Phòng Giám sát lập "Hồ sơ rủi ro" định kỳ cho từng QTDND bao gồm cảnh báo về nợ xấu, thanh khoản, biến động tiền gửi bất thường; (ii) Phòng Kiểm tra sử dụng hồ sơ rủi ro để xây dựng đề cương theo phương pháp dựa trên rủi ro (risk-based approach), tập trung nguồn lực vào các mảng có rủi ro cao; (iii) Phản hồi từ kết quả kiểm tra thực tế để phòng Giám sát điều chỉnh phương pháp và hoàn thiện chỉ tiêu cảnh báo sớm.
Thứ tư, mở rộng cơ chế phối hợp liên ngành. Ký kết quy chế phối hợp chính thức giữa Chi nhánh với NHNN chi nhánh khu vực và Ngân hàng Hợp tác xã để chia sẻ dữ liệu định kỳ và thống nhất đầu mối liên lạc. Tổ chức kiểm tra liên ngành đối với các QTDND có dấu hiệu mất an toàn, tránh chồng chéo và giảm áp lực cho đơn vị được kiểm tra. Thiết lập đường dây nóng tiếp nhận phản ánh từ người gửi tiền để phát hiện sớm các hành vi vi phạm từ cơ sở.
Thứ năm, tăng cường hậu kiểm và chế tài xử lý. Lập danh mục theo dõi QTDND đã kiểm tra, phân loại theo mức độ rủi ro và tiến độ khắc phục; ứng dụng phần mềm để theo dõi liên tục. Đối với các đơn vị không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các kiến nghị sau kiểm tra, Chi nhánh kiến nghị NHNN xem xét, áp dụng biện pháp xử lý phù hợp theo quy định.
Bên cạnh đó, hoàn thiện quy chế phối hợp BHTGVN – Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng, NHNN để phân công nhiệm vụ rõ ràng và nâng cao hiệu quả phối hợp trong hoạt động kiểm tra, giám sát. Đồng thời, xây dựng chế độ đãi ngộ phù hợp đối với đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra tại vùng sâu, vùng xa nhằm thu hút, giữ chân nguồn nhân lực có chất lượng và tạo động lực nâng cao hiệu quả thực thi nhiệm vụ.
Các giải pháp được đề xuất trong nghiên cứu, từ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hiện đại hóa công cụ kiểm tra đến tăng cường phối hợp giám sát và nâng cao hiệu quả hậu kiểm, kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Chi nhánh BHTGVN khu vực Tây Bắc Bộ trong thời gian tới. Qua đó, hỗ trợ duy trì sự an toàn, ổn định của hệ thống QTDND trên địa bàn, đóng góp vào mục tiêu bảo vệ người gửi tiền và bảo đảm sự phát triển bền vững của hệ thống tài chính - ngân hàng.
Ban nghiên cứu đề tài Chi nhánh BHTGVN khu vực Tây Bắc Bộ



