Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh quốc gia. Điều đó đòi hỏi Đảng không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn để có đủ bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn dẫn dắt đất nước. Hệ thống văn bản của Đảng từ Cương lĩnh, Điều lệ đến các nghị quyết, chỉ thị, kết luận và quy định qua các kỳ Đại hội, cùng với Kết luận số 226-KL/TW ngày 11/12/2025 của Ban Bí thư khóa XIII (Kết luận số 226-KL/TW) ban hành trước thềm đại hội XIV, là minh chứng rõ nét cho tinh thần gương mẫu tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng.
Tự đổi mới, tự chỉnh đốn - nguyên tắc tổ chức và nhiệm vụ chiến lược thường xuyên của Đảng
Tự đổi mới, tự chỉnh đốn trước hết được thể hiện ở việc kịp thời khắc phục những hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành, qua đó bảo đảm bộ máy vận hành hiệu lực, hiệu quả, gắn chặt với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, sức mạnh của Đảng không chỉ bắt nguồn từ đường lối đúng đắn mà còn từ tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, thẳng thắn nhận diện hạn chế để sửa chữa và hoàn thiện. Vì vậy, tự phê bình và phê bình, gắn với tự đổi mới và tự chỉnh đốn luôn là quy luật tồn tại của một Đảng cách mạng chân chính.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán xác định tự phê bình và phê bình là nguyên tắc tổ chức cơ bản, là quy luật phát triển, đồng thời là “vũ khí sắc bén” để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Quan điểm này được thể hiện rõ tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó nhấn mạnh yêu cầu Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Tinh thần đó tiếp tục được thể chế hóa trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua ngày 1/2/2021), quy định đảng viên có nhiệm vụ “thực hiện tự phê bình và phê bình, trung thực với Đảng”, đồng thời khẳng định đây là nội dung quan trọng trong nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Nghị quyết số 12-NQ/TW (Hội nghị Trung ương 4 khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” khẳng định: “Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng”, đồng thời yêu cầu tổ chức kiểm điểm từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến từng cấp ủy, tổ chức đảng và từng đảng viên. Tiếp đó, Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư nhấn mạnh trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp. Đến Nghị quyết số 04-NQ/TW (Hội nghị Trung ương 4 khóa XII), Đảng tiếp tục đặt trọng tâm vào nhiệm vụ “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng”; chỉ rõ các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đồng thời yêu cầu việc kiểm điểm phải được thực hiện nghiêm túc, thực chất, khắc phục tình trạng hình thức. Cùng với đó, Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị yêu cầu đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào sinh hoạt và kiểm điểm hằng năm, qua đó gắn tự phê bình với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
Trong nhiệm kỳ Đại hội khóa XIII của Đảng, Kết luận số 21-KL/TW (Hội nghị Trung ương 4) khẳng định yêu cầu “kiên quyết, kiên trì thực hiện tự phê bình và phê bình thực chất”, đồng thời mở rộng phạm vi chỉnh đốn, không chỉ trong Đảng mà còn đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Bên cạnh đó, Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, Quy định số 294-QĐ/TW và nay là Quy định số 20-QĐ/TW, ngày 8/4/2026 về thi hành Điều lệ Đảng đã tiếp tục cụ thể hóa trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành kỷ luật, thực hiện kiểm điểm, đánh giá và xử lý vi phạm; qua đó góp phần bảo đảm việc tự phê bình và phê bình được thực hiện nền nếp, chặt chẽ gắn với kiểm tra, giám sát.
Hệ thống văn bản của Đảng từ Cương lĩnh, Điều lệ đến các nghị quyết, chỉ thị, kết luận và quy định chuyên đề qua các nhiệm kỳ cho thấy Đảng không chỉ đề cao tự phê bình về mặt nguyên tắc mà còn chủ động thể chế hóa bằng cơ chế kiểm điểm, giám sát chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở, gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Điều đó khẳng định tinh thần gương mẫu, tiên phong của Đảng trong việc tự soi, tự sửa, xác định đây là nhiệm vụ thường xuyên và trọng tâm nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, giữ vững vai trò cầm quyền và củng cố niềm tin của Nhân dân.
Chấn chỉnh lề lối làm việc – thông điệp chính trị và hành động quyết liệt
Kết luận số 226-KL/TW đã thẳng thắn chỉ ra những vấn đề cần chấn chỉnh trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành như: tình trạng ban hành văn bản nhiều, hội họp dàn trải; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa thật chặt chẽ; chế độ thông tin, báo cáo chưa đồng bộ; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số còn hạn chế. Những tồn tại này nếu không khắc phục kịp thời sẽ làm giảm hiệu lực lãnh đạo và tạo khoảng cách giữa chủ trương với kết quả thực tiễn. Thực tế cho thấy, nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng rất đúng đắn và kịp thời, nhưng kết quả triển khai chưa tương xứng; một trong những nguyên nhân quan trọng là khâu tổ chức thực hiện còn yếu.
Vì vậy, trong giai đoạn mới, công tác tự đổi mới, tự chỉnh đốn cần tập trung vào đổi mới phương thức tổ chức thực hiện theo hướng tinh gọn quy trình, giảm hình thức, nâng cao tính thực chất; xác định rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát; đồng thời ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin và chuyển đổi số nhằm nâng cao chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành.
Thẳng thắn nhìn nhận hạn chế để nâng cao hiệu quả hoạt động
Chấn chỉnh lề lối làm việc không chỉ là cải tiến các quy trình, kỹ thuật hành chính mà còn là yêu cầu nâng cao kỷ luật, trách nhiệm và văn hóa công vụ trong toàn hệ thống chính trị. Kết luận số 226-KL/TW đã thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, đồng thời đề ra giải pháp khắc phục cụ thể với từng vấn đề.
Về công tác ban hành văn bản, ở một số nơi vẫn còn tình trạng ban hành văn bản dàn trải, trùng lặp, hình thức; chất lượng văn bản chưa cao, chưa xác định rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và thời hạn thực hiện. Số lượng văn bản, báo cáo còn nhiều, gây áp lực cho cơ sở; thậm chí có những văn bản chủ yếu sao chép lại nội dung văn bản của cấp trên, dẫn đến tình trạng đẩy khó khăn trong tổ chức thực hiện xuống cấp dưới.
Trước thực trạng đó, Kết luận số 226-KL/TW yêu cầu nâng cao chất lượng công tác xây dựng và ban hành văn bản bảo đảm đúng thẩm quyền, đúng thể thức; nội dung phải rõ ràng, khả thi, xác định cụ thể trách nhiệm và thời hạn thực hiện. Đồng thời, tiến hành rà soát, sửa đổi hoặc bãi bỏ các văn bản không còn phù hợp; giảm số lượng văn bản hành chính hằng năm “thực hiện tinh giản tối thiểu 15% số lượng văn bản hành chính so với năm trước”, hạn chế tình trạng ban hành trùng lặp, hình thức.
Về công tác tổ chức hội nghị, số lượng hội nghị, cuộc họp ở nhiều nơi còn lớn, nội dung có trường hợp chưa thật sự cần thiết, hiệu quả chưa tương xứng với thời gian, nguồn lực bỏ ra. Bên cạnh đó, việc phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có lúc chưa chặt chẽ; tình trạng chồng chéo trong xử lý công việc, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm vẫn còn xảy ra.
Để khắc phục tình trạng này, Kết luận số 226-KL/TW yêu cầu chỉ tổ chức hội nghị khi thật sự cần thiết; nội dung phải thiết thực, tập trung vào giải quyết các vấn đề trọng tâm. Đồng thời, tăng cường ứng dụng các hình thức họp trực tuyến, rút ngắn thời gian tổ chức, nâng cao chất lượng thảo luận và kết luận, trong đó: “số lượng hội nghị trực tiếp chiếm không quá 40% và số lượng hội nghị trực tuyến chiếm không ít hơn 60% tổng số hội nghị trong năm”, “thực hiện tinh giản 10% số lượng hội nghị hằng năm”.
Về đổi mới phương thức làm việc, phối hợp công tác, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, ở một số nơi còn chậm đổi mới; chức năng, nhiệm vụ, quy trình công tác chưa được chuẩn hóa đồng bộ, dẫn đến tình trạng chồng chéo, né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Việc phân cấp, phân quyền chưa rõ ràng; cấp dưới còn tâm lý ỷ lại, xin ý kiến vượt thẩm quyền. Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số chưa đồng bộ; số lượng báo cáo còn nhiều, chất lượng còn mang tính hình thức, trùng lặp.
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế này cần rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị; thực hiện nguyên tắc “một việc – một đầu mối”, bảo đảm rõ người, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm. Đồng thời, đề cao trách nhiệm cá nhân và người đứng đầu “lấy kết quả, sản phẩm và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác”. Cùng với đó, đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện hạ tầng và dữ liệu dùng chung; tăng tỷ lệ xử lý công việc trên môi trường số; chuẩn hóa, tinh gọn hệ thống báo cáo; tăng cường kiểm tra, giám sát và gắn kết quả thực hiện với công tác đánh giá, xếp loại cán bộ.
Chấn chỉnh lề lối làm việc trước hết phải bắt đầu từ mỗi đảng viên với tinh thần làm việc khoa học, trách nhiệm; nói đi đôi với làm; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; chủ động phối hợp trong công việc; ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin; thực hiện chế độ báo cáo trung thực, kịp thời; đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.
Đảng lãnh đạo bằng chủ trương, nhưng chủ trương chỉ trở thành hiện thực thông qua hành động của mỗi cán bộ, đảng viên. Mỗi đảng viên chính là người trực tiếp tổ chức thực hiện, là cầu nối giữa nghị quyết của Đảng và đời sống thực tiễn.
Cấp ủy và đảng viên - những tấm gương đi đầu trong tự đổi mới, tự chỉnh đốn
Để chủ trương chấn chỉnh lề lối làm việc thực sự phát huy hiệu quả, các cấp ủy đảng trực thuộc Đảng bộ Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) cùng toàn thể cán bộ, đảng viên cần chủ động, gương mẫu đi đầu trong tự đổi mới, tự chỉnh đốn gắn với việc nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Trước hết, các cấp ủy cần cụ thể hóa các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ của ngành, của đơn vị thành chương trình, kế hoạch hành động sát thực tiễn; phân công rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ sản phẩm, đồng thời định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện. Bên cạnh đó, cần tập trung rà soát, hoàn thiện quy chế làm việc theo hướng khoa học; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Kiên quyết cắt giảm hội họp không cần thiết; chủ động đề xuất cắt giảm văn bản, báo cáo trùng lặp, không liên quan trực tiếp đến chức năng nhiệm vụ của đơn vị; tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm.
Đối với mỗi đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý, yêu cầu đặt ra là phải gương mẫu trong tác phong, lề lối làm việc; làm việc có kế hoạch, có trọng tâm; giải quyết công việc đúng hạn; không né tránh, đùn đẩy; nâng cao tinh thần trách nhiệm và tính chủ động. Đồng thời, tích cực học tập, rèn luyện kỹ năng số, thích ứng với phương thức làm việc mới.
Chấn chỉnh lề lối làm việc suy cho cùng cũng là để nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của BHTGVN, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, củng cố niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước. Đây cũng là một trong những giải pháp quan trọng để đóng góp vào mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tự chỉnh đốn, tự đổi mới - quá trình thường xuyên, liên tục
Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, mỗi bước trưởng thành của Đảng đều gắn liền với quá trình tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Trong giai đoạn hiện nay, chấn chỉnh lề lối làm việc theo tinh thần Kết luận số 226-KL/TW không chỉ là giải pháp trước mắt, mà là bước đi quan trọng thường xuyên, liên tục nhằm xây dựng phong cách lãnh đạo khoa học, hiện đại, phù hợp yêu cầu phát triển đất nước.
Những năm gần đây, Đảng đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành. Hệ điều hành tác nghiệp được triển khai giúp gửi, nhận và xử lý văn bản của Đảng trên môi trường điện tử nhanh chóng, hiệu quả; ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử hỗ trợ đảng viên theo dõi tài liệu và nội dung sinh hoạt chi bộ thuận tiện hơn; 4 dịch vụ công của Đảng đã được cung cấp trên môi trường số như: thu, nộp đảng phí trực tuyến; chuyển sinh hoạt Đảng; cấp giấy xác nhận sinh hoạt Đảng; tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị của đảng viên. Đây là những bước đi cụ thể thể hiện quyết tâm đổi mới phương thức lãnh đạo trong thời đại số.
Tự chỉnh đốn, tự đổi mới vì thế không chỉ là khẩu hiệu, mà là hành động thực chất, bền bỉ; không phải nhiệm vụ nhất thời, mà là quá trình thường xuyên, liên tục, gắn với trách nhiệm của từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên.
Chi bộ Cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng ủy BHTGVN

.jpg)


