Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cấp hạ tầng công nghệ
Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), về xây dựng, hoàn thiện thể chế, NHNN đã nghiên cứu, tham mưu trình các cấp ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM). Bên cạnh đó, NHNN đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn, các văn bản yêu cầu về đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng, tháo gỡ các điểm nghẽn về pháp lý, cho phép ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ mới như xác thực qua VNeID và chuẩn hóa an toàn hệ thống thông tin.
Đồng thời, trong chỉ đạo, định hướng, Thống đốc NHNN đã chỉ đạo kiện toàn Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc của Ngành, tập trung vào 5 trụ cột gồm: phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu và Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030). NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động ngành Ngân hàng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia với 105 nhiệm vụ trọng tâm. Những chỉ đạo này đã tạo định hướng cho ngành Ngân hàng trong việc nghiên cứu, thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng luôn được chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển. Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng hoạt động thông suốt, an toàn, hiệu quả. Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử do Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia (Napas) tổ chức vận hành tiếp tục đẩy mạnh tích hợp, kết nối sản phẩm, dịch vụ, nền tảng với các ngành, lĩnh vực khác để cung cấp dịch vụ công qua Cổng dịch vụ công Quốc gia (DVCQG), tập trung vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông. NHNN đã triển khai hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR giữa Việt Nam và các quốc gia (Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Hàn Quốc), đang triển khai hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR với một số quốc gia khác.
Tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại ngân hàng đạt gần 89%
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số của ngành Ngân hàng với nhiều phương thức thanh toán hiện đại, tiện lợi được kết nối liên thông, tích hợp liền mạch với các ngành, lĩnh vực khác, đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của khách hàng. Nhiều nghiệp vụ cơ bản đã được số hóa hoàn toàn. Nhiều tổ chức tín dụng (TCTD) tại Việt Nam có tỷ lệ trên 90% giao dịch thực hiện trên kênh số. Đặc biệt, đến cuối năm 2025, tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại ngân hàng đạt gần 89%.
Hoạt động TTKDTM tiếp tục phát triển mạnh, trong năm 2025, giá trị TTKDTM gấp khoảng 28 lần GDP, minh chứng cho sự thay đổi mạnh mẽ trong thói quen thanh toán của người dân. Trong 3 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, giao dịch TTKDTM tăng 37,98% về số lượng và 14,22% về giá trị; qua kênh Internet tăng 65,68% về số lượng và 28,85% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 33,22% về số lượng và 8,35% về giá trị; qua QR code tăng 16,43% về số lượng và 52,4% về giá trị. Trong 3 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, giao dịch qua ATM giảm 9,29% về số lượng cho thấy nhu cầu thanh toán, rút tiền mặt của người dân qua ATM tiếp tục xu hướng giảm và được thay thế bởi các phương thức, thói quen TTKDTM.
Hoạt động thanh toán dịch vụ công qua ngân hàng tiếp tục được đẩy mạnh, các ngân hàng thương mại, các tổ chức trung gian thanh toán tích cực đầu tư ứng dụng công nghệ, nghiên cứu, có giải pháp kết nối với Cổng DVCQG để thực hiện thanh toán trực tuyến cho các dịch vụ đã được tích hợp trên Cổng DVCQG. Thanh toán điện tử trong khu vực chính phủ, dịch vụ hành chính đạt được kết quả khả quan; công tác thu ngân sách Nhà nước bằng phương thức TTKDTM được chú trọng, tăng cường và đạt kết quả tích cực.
Trong hoạt động kết nối, liên thông dữ liệu: Ngành Ngân hàng tiếp tục chú trọng đầu tư và nâng cấp hạ tầng dữ liệu mới nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và phát triển sản phẩm dịch vụ, bảo đảm cập nhật dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Ngành Ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử VNeID, căn cước công dân gắn chip để làm sạch dữ liệu khách hàng, định danh chính xác khách hàng đăng ký và sử dụng dịch vụ. Tính đến hết ngày 24/4/2026, đã có hơn 156,6 triệu hồ sơ khách hàng (hơn 154,5 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân và hơn 2,13 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức) được đối chiếu thông tin sinh trắc học qua căn cước công dân gắn chip hoặc ứng dụng VneID, giúp loại bỏ tài khoản ảo và nâng cao tính minh bạch cho toàn hệ thống.
Bên cạnh đó, NHNN đã hoàn thành đồng bộ 4 cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo Nghị quyết số 71/NQ-CPcủa Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 71) và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 71 lên Trung tâm dữ liệu quốc gia, đồng thời tiếp tục làm giàu dữ liệu theo yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống”.
Hơn 4,3 nghìn tỷ đồng được bảo vệ nhờ “lá chắn số” SIMO
Công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng luôn được quan tâm chú trọng. Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao.
NHNN đã triển khai Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro cho khách hàng (SIMO). Hệ thống SIMO cho phép các tổ chức thành viên tham gia thực hiện báo cáo thông tin về các tài khoản đáng ngờ khi phát hiện và chia sẻ thông tin tới các thành viên khác. Trên cơ sở nguồn dữ liệu tập trung của Hệ thống SIMO, các TCTD có thể đưa ra các quyết định thực hiện ngăn chặn giao dịch ngay lập tức hoặc yêu cầu xác thực, định danh tài khoản trước khi thực hiện giao dịch trực tuyến, qua đó góp phần giảm thiểu tình trạng gian lận, lừa đảo, bảo vệ an toàn tài khoản của khách hàng. Tính đến ngày 27/4/2026, Hệ thống SIMO đã triển khai đến 149 đơn vị (gồm 99 TCTD và 50 tổ chức trung gian thanh toán). Hệ thống đã hỗ trợ cảnh báo đến hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, trong đó có hơn 1,2 triệu lượt khách hàng đã tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận được cảnh báo, với tổng số tiền giao dịch tương ứng là hơn 4,3 nghìn tỷ đồng. Trong quá trình triển khai dịch vụ, NHNN cũng đã yêu cầu các đơn vị có lộ trình triển khai đồng bộ dịch vụ cảnh báo cho khách hàng trên tất cả các kênh (Mobile Banking, Internet Banking, quầy, ATM) để đảm bảo thống nhất trải nghiệm cho khách hàng. Đây là minh chứng rõ nét cho việc chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao tiện ích, mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng và tăng cường an toàn trong hoạt động ngân hàng.
Công tác cải cách hành chính gắn liền với số hóa toàn trình cũng được đẩy mạnh để tiết giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Nhiều năm liên tục, NHNN đứng trong top dẫn đầu các bộ, ngành về chỉ số Cải cách hành chính. Bên cạnh đó, NHNN đã quyết liệt đề xuất cắt giảm và đơn giản hóa 269 trên tổng số 298 thủ tục hành chính, đạt tỷ lệ 90,3%, đồng thời cắt giảm 255 điều kiện kinh doanh. Năm 2025, NHNN đã chính thức cung cấp thêm 32 dịch vụ công toàn trình, nâng tổng số đã cung cấp lên 57 dịch vụ, hoàn thành nhiệm vụ 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện liên quan đến doanh nghiệp được nâng cấp lên dịch vụ công toàn trình.
Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ ngân hàng
Bên cạnh những kết quả nêu trên, quá trình số hóa ngân hàng cũng gặp phải những thách thức. Xu hướng tội phạm công nghệ với những thủ đoạn mới ngày càng tinh vi, khó lường, gia tăng rủi ro an ninh mạng. Trong khi đó, dữ liệu còn phân tán, phân mảnh, chất lượng chưa đồng đều, chuẩn hóa còn chậm; việc chia sẻ, liên thông chưa thông suốt, chưa có sự đồng bộ và chuẩn hóa cơ sở hạ tầng giữa các ngành, lĩnh vực để tạo điều kiện thuận tiện nhất cho việc kết nối, tích hợp tạo lập hệ sinh thái số. Nguồn nhân lực chất lượng cao, có kinh nghiệm, có kiến thức về nghiệp vụ và công nghệ phục vụ chuyển đổi số còn thiếu.
Thời gian tới, để thúc đẩy chuyển đổi số ngân hàng, hướng tới các mục tiêu của chuyển đổi số quốc gia, ngành Ngân hàng cho biết tiếp tục tập trung vào các giải pháp:
Tiếp tục hoàn thiện thể chế, hành lang pháp lý tạo điều kiện cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngân hàng.
Trong công tác phát triển dữ liệu số, ngành Ngân hàng tiếp tục nghiên cứu quy hoạch xây dựng các kho dữ liệu dùng chung cho toàn ngành; đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các Cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành và Cổng DVCQG.
Đồng thời, ngành Ngân hàng tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cải cách thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến; trong đó tiếp tục xây dựng hệ thống giải quyết thủ tục hành chính tập trung, đồng bộ, số hóa toàn diện quy trình, thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu đã được công bố, tài liệu đã được số hóa, giảm thời gian xử lý, nâng cao minh bạch, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tiết giảm chi phí, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ ngân hàng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị nội bộ.
Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, văn hóa học tập, sáng tạo: Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, các trình độ; quyết liệt triển khai phong trào Bình dân học vụ số; tổ chức đào tạo chuyển đổi số, nâng cao năng lực quản trị, phân tích dữ liệu và đổi mới sáng tạo gắn với phong trào “học tập suốt đời” trong cán bộ, công chức và người lao động ngành Ngân hàng.
Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học quốc tế, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và phát triển chuyên gia theo chuẩn toàn cầu.
Về phía các TCTD, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, cần ưu tiên phát triển hạ tầng số, nền tảng số hiện đại, bảo đảm an ninh, an toàn: tiếp tục ứng dụng công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (BigData), điện toán đám mây (Cloud Computing), chuỗi khối (Blockchain) trong hoạt động ngân hàng để đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện hoạt động quản trị, điều hành, nghiệp vụ, đẩy nhanh quá trình ra quyết định và phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại. Đầu tư vào an ninh mạng, bảo mật dữ liệu, xây dựng trung tâm giám sát an ninh mạng và năng lực ứng phó sự cố hiệu quả; triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến, thanh toán thẻ ngân hàng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng;
Đẩy mạnh truyền thông, giáo dục tài chính nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho công chúng trong sử dụng sản phẩm, dịch vụ tài chính, ngân hàng, hạn chế nguy cơ tội phạm lợi dụng dịch vụ ngân hàng cho mục đích gian lận, lừa đảo;
Đa dạng và cá nhân hóa dịch vụ ngân hàng số, tăng trải nghiệm: Số hóa toàn diện các quy trình và sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống; phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính số mới; mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính cho đối tượng yếu thế, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
Hà Giang




