
Điều chỉnh hạn mức chi trả tiền bảo hiểm là yêu cầu cấp thiết, phù hợp với thực tiễn hoạt động của các TCTD tại Việt Nam
Theo nhận định của NHNN trong Bản thuyết minh dự thảo Thông tư quy định về hạn mức chi trả tiền bảo hiểm, thời gian vừa qua, tình hình kinh tế - xã hội nói chung và hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) nói riêng có bước phát triển nhanh. Trong khi đó, việc điều chỉnh hạn mức chi trả tiền bảo hiểm trong một số thời điểm chưa thực sự bắt kịp những biến động của thị trường.
|
Dữ liệu |
Năm 2000 |
Năm 2005 |
Năm 2017 |
Năm 2021 |
Năm 2025 |
|
Hạn mức chi trả tiền bảo hiểm (triệu VNĐ) |
30 |
50 |
75 |
125 |
125 |
|
Tăng so với hạn mức trước đó (lần) |
- |
1,7 |
1,5 |
1,7 |
- |
|
GDP (nghìn tỷ VNĐ) |
444 |
838 |
5.008 |
8.399 |
12.847 |
|
GDP bình quân đầu người (triệu VNĐ) |
5,7 |
10 |
53 |
85 |
125,5 |
|
Hạn mức chi trả tiền bảo hiểm/ GDP bình quân đầu người (lần) |
5,2 |
5 |
1,4 |
1,5 |
1,0 |
|
(Nguồn: Cơ quan thống kê quốc gia) |
Từ năm 2000 đến nay, ở Việt Nam, hạn mức chi trả đã được điều chỉnh tăng 3 lần với giá trị hạn mức năm 2025 tăng 4,16 lần so với năm 2000. Trong khi đó, GDP bình quân đầu người trong giai đoạn tương ứng đã tăng 22 lần. Điều này dẫn đến chỉ số “Hạn mức/GDP bình quân đầu người" đã giảm từ 5,2 lần năm 2000 xuống còn 1 lần vào năm 2025.
Về quy mô GDP, giai đoạn 2000 - 2025 chứng kiến quy mô GDP tăng mạnh; từ 444 nghìn tỷ năm 2000 lên 12.847 nghìn tỷ đồng năm 2025 (sau 25 năm, quy mô GDP Việt Nam đã tăng gần 29 lần). Trong bối cảnh Đảng và Chính phủ đưa ra định hướng tăng trưởng hai con số hàng năm trong giai đoạn 2026 – 2030, dự kiến quy mô nền kinh tế và GDP bình quân đầu người của Việt Nam sẽ tăng đáng kể (với mục tiêu này, đến năm 2030 quy mô GDP dự kiến tăng 1,6 lần so với năm 2025). Vì vậy, cần sớm nghiên cứu điều chỉnh tăng hạn mức ngay từ bây giờ để hạn mức không bị tụt hậu so với thực tiễn phát triển kinh tế.
NHNN cho biết, tại thời điểm 31/12/2025, tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm của toàn hệ thống là 10,02 triệu tỷ đồng, tăng gần 3,4 triệu tỷ đồng so với thời điểm cuối năm 2021 (tương đương tăng 51,4%); số người gửi tiền được bảo hiểm trong toàn hệ thống là 138,69 triệu người, tăng 55,58 triệu người so với năm 2021 (tương đương tăng 66,87%).
Trong giai đoạn 2000 – 2025, quy mô tiền gửi được bảo hiểm tăng mạnh từ 66,4 nghìn tỷ đồng lên 10,2 triệu tỷ đồng. Tại thời điểm năm 2000, quy mô tiền gửi được bảo hiểm chỉ chiếm 15% GDP. Đến năm 2025, quy mô tiền gửi được bảo hiểm tăng mạnh, tương đương 78% GDP. Trong bối cảnh đó, việc tăng hạn mức chi trả tiền bảo hiểm góp phần bảo vệ tốt hơn người gửi tiền, gia tăng niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống các tổ chức tín dụng; từ đó duy trì và tăng trưởng tiền gửi của dân cư, góp phần đảm bảo nguồn cung cấp tín dụng phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Kinh nghiệm quốc tế về hạn mức chi trả tiền bảo hiểm
Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI) và Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) đã ban hành Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả; trong đó khuyến nghị: “Hạn mức và phạm vi BHTG được xác định rõ ràng. Hạn mức và phạm vi BHTG có giới hạn, đáng tin cậy và bảo vệ đại đa số người gửi tiền nhưng vẫn đảm bảo tỷ lệ đáng kể giá trị tiền gửi tuân theo kỷ luật thị trường. Hạn mức và phạm vi BHTG phù hợp với các mục tiêu chính sách công và các đặc điểm thiết kế có liên quan của hệ thống BHTG.”
Hướng dẫn nâng cao về phát triển hệ thống BHTG hiệu quả - Hạn mức BHTG (IADI, 2013) khuyến nghị: Hạn mức cần bảo vệ toàn bộ phần lớn người gửi tiền, hạn mức mục tiêu có xu hướng tăng và bảo vệ toàn bộ 90 – 95% tổng số người gửi tiền. Trong trường hợp một số ít người gửi tiền nắm giữ giá trị tiền gửi rất lớn, hạn mức mục tiêu có thể cao hơn để đảm bảo bảo vệ phần đông người gửi tiền.
Bên cạnh đó, theo Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) - cơ quan thực thi chính sách BHTG - cần nghiên cứu xu hướng thực tiễn của hạn mức trên thế giới làm cơ sở tham khảo đề xuất quy định hạn mức tại Việt Nam với định hướng về dài hạn, hạn mức tại Việt Nam sẽ tiệm cận với mức bình quân toàn cầu.
Trong các tài liệu nghiên cứu quốc tế về hạn mức, 3 tiêu chí thường xuyên được sử dụng để đánh giá hạn mức, bao gồm: Tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ trên tổng số người gửi tiền được bảo hiểm; Tỷ lệ giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ trên tổng giá trị tiền gửi được bảo hiểm; Tỷ lệ hạn mức trên GDP bình quân đầu người.
Qua kết quả khảo sát thường niên quy mô lớn trên toàn cầu do IADI thực hiện (năm 2024 có 112 tổ chức bảo hiểm tiền gửi trên thế giới tham gia trả lời khảo sát), xu hướng về hạn mức chi trả tiền bảo hiểm trên thế giới như sau:
Tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ trung bình trên toàn cầu luôn duy trì ổn định và ở mức rất cao (98% trong giai đoạn 2014 – 2023). Theo nhận định của IADI, hạn mức chi trả tiền bảo hiểm được điều chỉnh tăng cao sau khủng hoảng tài chính 2008-2009 và được duy trì ở mức cao trong suốt thời gian vừa qua nhằm bảo vệ phần lớn người gửi tiền.
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của BHTGVN, cần loại trừ những người gửi tiền có số dư dưới 50.000 đồng khi tính toán tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ. Sau khi loại trừ, với hạn mức 125 triệu đồng tại thời điểm 31/12/2025, tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ trên tổng số người gửi tiền được bảo hiểm là 87,61%. Tỷ lệ này thấp so với bình quân toàn cầu (98%) cũng như thấp hơn định hướng 92% - 95% tại Chiến lược phát triển BHTG đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Tỷ lệ giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ là 47% năm 2023 tính trung bình toàn cầu, giảm so với mức 50,3% năm 2014. Các yếu tố như lạm phát tăng, tiền gửi của người gửi tiền nhỏ lẻ tăng nhanh trong giai đoạn đại dịch COVID-19 là nguyên nhân khiến tỷ lệ giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ trung bình toàn cầu giảm xuống nhưng vẫn đang ở mức khá cao.
Ở Việt Nam, với hạn mức 125 triệu đồng, tại thời điểm 31/12/2025 tỷ lệ giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ là 8,25%, thấp hơn nhiều mức bình quân toàn cầu là 47%. Bên cạnh đó, xu hướng tỷ lệ giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ tại Việt Nam cũng đang giảm dần do xu hướng có nhiều tài khoản tiền gửi có số dư trên 125 triệu đồng gửi vào hệ thống TCTD.
Tỷ lệ hạn mức/GDP bình quân đầu người cũng là một yếu tố quan trọng được xem xét khi đánh giá hạn mức. Năm 2023, tỷ lệ này trung bình trên toàn cầu là 3,3 lần.
Tại Việt Nam, với hạn mức 125 triệu đồng theo quy định hiện hành, tỷ lệ hạn mức trên GDP bình quân đầu người là 1 lần.
Tóm lại, so với thông lệ quốc tế cũng như thực tiễn các chỉ số liên quan tại Việt Nam, hạn mức chi trả tiền bảo hiểm hiện tại đang ở mức thấp và cần được xem xét, điều chỉnh tăng một cách phù hợp.
Tăng hạn mức chi trả tiền bảo hiểm góp phần bảo vệ tốt hơn người gửi tiền, gia tăng niềm tin đối với hệ thống các TCTD
Trên cơ sở Luật BHTG năm 2025, thông lệ quốc tế, tình hình thực tế hiện nay và trên cơ sở đề xuất, đánh giá tác động của BHTGVN; đồng thời kế thừa các quy định tại Quyết định số 32/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/10/2021 về hạn mức trả tiền bảo hiểm; để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Quyết định số 32/2021/QĐ-TTg xuất phát từ việc hạn mức 125 triệu đồng đang ở mức thấp và cần xem xét điều chỉnh tăng một cách phù hợp, NHNN đang dự thảo Thông tư quy định về hạn mức trả tiền bảo hiểm.
Theo đó, dự thảo Thông tư quy định về hạn mức chi trả tiền bảo hiểm của tổ chức BHTG đối với người được BHTG. Số tiền tối đa tổ chức BHTG trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm theo quy định của Luật BHTG (gồm cả tiền gốc và tiền lãi) của một người tại một tổ chức tham gia BHTG khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm là 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng).
NHNN nhận định, với phương án hạn mức 350 triệu đồng: Tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ: Toàn hệ thống là 93,68%; Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND): 80,15%. Tỷ lệ giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ: Toàn hệ thống là 19,06%; Hệ thống QTDND: 37,57%. Hạn mức/GDP bình quân: 2,8 lần. Tăng so với hạn mức 125 triệu đồng hiện hành: 2,8 lần. (So với bình quân toàn cầu: Tỷ lệ người gửi toàn bộ là 98%, Tỷ lệ giá trị toàn bộ là 47%, Hạn mức/GDP là 3,3 lần).
Theo NHNN, việc tăng hạn mức lên 350 triệu đồng giúp cải thiện các tiêu chí để đánh giá hạn mức, giúp hạn mức có ý nghĩa thiết thực hơn và từng bước gần hơn với thông lệ quốc tế; cụ thể:
Tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ là 93,68%, đối với nhóm QTDND là 80,15%. Mặc dù còn thấp hơn mức trung bình toàn cầu (98%) nhưng đã đạt được khung tối thiểu theo khuyến nghị của IADI (90% - 95%) và phù hợp với định hướng tại Chiến lược phát triển BHTG (92-95%).
Tỷ lệ giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ trên toàn hệ thống là 19,06%, đối với nhóm QTDND là 37,57%, dù thấp hơn xu hướng toàn cầu, nhưng gần tiệm cận nếu xét riêng nhóm QTDND.
Tỷ lệ hạn mức/GDP bình quân đầu người là 2,8 lần, từng bước tiệm cận xu hướng toàn cầu là 3,3 lần.
Hạn mức 350 triệu đồng tăng 2,8 lần so với hạn mức 125 triệu đồng, đây là mức tăng không quá đột biến.
PV




