Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến tháng 11/2025, cả nước có trên 163 triệu thẻ ngân hàng đang lưu hành, tăng 4,36% so với cùng kỳ năm 2024. Thẻ ngân hàng (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ ATM) được nhiều người ưa chuộng nhờ các tiện ích vượt trội như thanh toán không dùng tiền mặt nhanh chóng qua POS/ trực tuyến, rút tiền 24/7, quản lý chi tiêu và an toàn bảo mật cao. Đặc biệt, thẻ tín dụng giúp “chi tiêu trước, trả tiền sau”, trả góp 0% cùng nhiều ưu đãi hoàn tiền, giảm giá.
Cảnh giác với các chiêu trò gian lận thẻ
Cùng với sự phát triển của thanh toán điện tử, các hình thức lừa đảo, chiếm đoạt thông tin thẻ của tội phạm công nghệ cao ngày càng gia tăng. Không ít khách hàng phản ánh tình trạng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ bị trừ tiền bất thường dù chủ thẻ khẳng định không thực hiện giao dịch.
Theo các chuyên gia an ninh mạng, đây là dấu hiệu điển hình của gian lận thẻ không cần xác thực mạnh (CNP fraud). Với loại hình này, kẻ gian không cần thẻ vật lý hay OTP, chỉ cần bộ thông tin cơ bản gồm số thẻ, ngày hết hạn và mã CVV là có thể thực hiện giao dịch trực tuyến tại các nền tảng chưa áp dụng xác thực bổ sung như 3D Secure.
Câu hỏi lớn đặt ra là dữ liệu thẻ bị lộ từ đâu? Thực tế cho thấy, dữ liệu có thể bị thu thập từ website thương mại điện tử bảo mật yếu, ứng dụng trung gian lưu thông tin thẻ không được mã hóa đúng chuẩn, thiết bị người dùng bị nhiễm mã độc hoặc từ các kho dữ liệu bị đánh cắp rồi rao bán trên chợ đen. Người dùng có thể không nhận ra mình từng cung cấp thông tin thẻ tại những nền tảng không an toàn.
Đáng lo ngại, nhiều giao dịch gian lận diễn ra vào ban đêm, ngày lễ hoặc thời điểm người dùng ít kiểm tra tài khoản. Nếu không bật thông báo giao dịch theo thời gian thực, các khoản trừ tiền nhỏ lặp lại có thể kéo dài hàng giờ, thậm chí hàng nghìn giao dịch trước khi bị phát hiện.
Bên cạnh đó là lý do bị rò rỉ thông tin, một số chủ thẻ bất cẩn làm lộ thông tin đăng nhập tài khoản, mã CVV/CVC hoặc mã chuyển tiền. Kẻ gian có thể sử dụng các thông tin này đăng nhập, chuyển tiền hoặc thanh toán hàng hóa.
Tăng cường bảo vệ khách hàng sử dụng thẻ ngân hàng
Ngành Ngân hàng luôn chú trọng công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin ứng dụng nghiệp vụ ngân hàng, phòng chống tội phạm công nghệ cao. NHNN thường xuyên yêu cầu các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán.
Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro cho khách hàng (SIMO) do NHNN triển khai thí điểm đã phát huy hiệu quả. Đến hết ngày 31/12/2025, hệ thống đã gửi cảnh báo đến hơn 2,4 triệu lượt khách hàng; trong đó, hơn 776 nghìn lượt khách hàng đã tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận cảnh báo với tổng số tiền giao dịch tương ứng là gần 2,9 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao. Thời gian qua, NHNN đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các tổ chức phát hành thẻ tăng cường an ninh an toàn trong cung cấp và sử dụng thẻ ngân hàng. Đáng chú ý, Thông tư số 18/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, có hiệu lực từ ngày 1/7/2024, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 45/2025/TT-NHNN ngày 19/11/2025, có hiệu lực từ ngày 5/1/2026.
Trọng tâm của Thông tư 45 là yêu cầu đối chiếu sinh trắc học (căn cước công dân/tài khoản định danh) khi thực hiện giao dịch thẻ điện tử. Theo đó, khách hàng chưa xác thực sinh trắc học hoặc thông tin giấy tờ tùy thân chưa khớp với thông tin sinh trắc học, sẽ không được mở và sử dụng thẻ ngân hàng.
Quy định này đã được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 30/VBHN-NHNN ngày 19/12/2025. Khoản 6 Điều 16 của Văn bản hợp nhất nêu rõ: thẻ chỉ được sử dụng để thực hiện giao dịch điện tử khi đã hoàn thành việc đối chiếu, xác minh khớp đúng giữa giấy tờ tùy thân và dữ liệu sinh trắc học của chủ thẻ, thông qua cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, tài khoản định danh điện tử hoặc xác thực trực tiếp theo quy định..
Bên cạnh đó, Điều 17 của Văn bản hợp nhất số 30 cũng quy định rõ trách nhiệm của tổ chức phát hành thẻ trong quản lý rủi ro, bảo mật thông tin, đảm bảo hạ tầng kỹ thuật an toàn, duy trì đường dây nóng 24/7 và phối hợp với các đơn vị liên quan nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động thẻ.
An toàn trong sử dụng thẻ từ phía người dùng
Bên cạnh các giải pháp công nghệ từ phía các ngân hàng, các tổ chức phát hành thẻ, người dùng thẻ cũng cần lưu ý thường xuyên kiểm tra sao kê, bật thông báo giao dịch, hạn chế lưu thông tin thẻ trên website hoặc giới hạn hạn mức thanh toán trực tuyến. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường, cần khóa thẻ ngay lập tức và yêu cầu tra soát sớm để tránh phát sinh thiệt hại và rủi ro nợ xấu ngoài ý muốn, trực tiếp tại phòng giao dịch, qua số hotline, qua ứng dụng Mobile banking, internet banking, SMS Banking…
Đặc biệt lưu ý bảo mật thông tin thẻ, nhất là mã CVV/CVC - mã bảo mật gồm 3 chữ số được in trực tiếp lên mặt sau của thẻ tín dụng.
Chủ thẻ không tiết lộ các thông tin thẻ cho bất kỳ ai, bảo quản thẻ kỹ lưỡng, hạn chế sử dụng thiết bị, wifi công cộng, đồng thời, chủ động kiểm tra các giao dịch, hạn mức của thẻ thường xuyên và giữ lại hóa đơn thanh toán để đối soát. Đây là căn cứ để bạn kiểm tra các khoản đã chi trả và đối soát với ngân hàng.
Khi sử dụng thẻ tín dụng, điều quan trọng khách hàng cần ghi nhớ là thanh toán đúng hạn. Ngân hàng thường cung cấp một khoảng thời gian miễn lãi, nếu bạn không hoàn trả nợ thẻ tín dụng đúng thời hạn, bạn sẽ chịu chi phí lãi suất và phí phạt cao, có thể lên tới 20 – 40%/năm. Việc thanh toán đúng hạn giúp duy trì lịch sử tín dụng tốt tại Trung tâm Tín dụng Quốc gia (CIC). Nếu thanh toán chậm trong thời gian dài, thông tin tín dụng có thể bị ảnh hưởng, tác động đến khả năng sử dụng thẻ tín dụng và xét duyệt các khoản vay trong tương lai, đặc biệt là những khoản vay lớn như mua nhà, xe hoặc phục vụ kinh doanh.
Trách nhiệm của các ngân hàng, tổ chức phát hành thẻ
Trong bối cảnh tội phạm công nghệ cao ngày càng tinh vi, phức tạp, các ngân hàng cần tiếp tục rà soát hệ thống phát hiện giao dịch bất thường, mở rộng áp dụng xác thực đa lớp cho thanh toán trực tuyến và hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi khách hàng khi xảy ra sự cố.
Đẩy nhanh việc kết nối, khai thác hiệu quả ứng dụng dữ liệu quốc gia về dân cư, đặc biệt nghiên cứu giải pháp kỹ thuật, quy trình nghiệp vụ để tích hợp, sử dụng VNeID vào hoạt động định danh, xác thực khách hàng trực tuyến, làm sạch các dữ liệu khách hàng, cũng như trong các hoạt động nghiệp vụ khác của ngành Ngân hàng.
Thúc đẩy ứng dụng công nghệ số, khai thác hiệu quả dữ liệu trong thiết kế, phát triển và cung ứng sản phẩm, dịch vụ tiện ích phù hợp với nhu cầu, hành vi của từng nhóm đối tượng khách hàng cùng với việc cảnh báo sớm, kịp thời phát hiện ngăn ngừa, phòng, chống rủi ro gian lận và công tác đảm bảo an ninh an toàn, bảo mật thông tin khách hàng.
Mở rộng việc kết nối, khai thác hệ thống SIMO và nguồn dữ liệu về danh sách tài khoản đã tham gia vào quá trình luân chuyển dòng tiền lừa đảo được Bộ Công an thu thập, chia sẻ để cảnh báo đến khách hàng khi thực hiện các giao dịch thanh toán trực tuyến.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng cho công chúng trong sử dụng thẻ ngân hàng an toàn, giúp người dân nhận biết được những hành vi bị cấm trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng và khuyến cáo người dân không tham gia, tiếp tay cho các đối tượng tội phạm lợi dụng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vào mục đích bất hợp pháp.
Hà Linh




