Ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi ngay từ đầu năm
Thị trường tiền gửi trong những ngày đầu tháng 1/2026 tiếp tục “nóng” khi nhiều ngân hàng mạnh tay điều chỉnh lãi suất tiết kiệm lên mức cao. Không ít nhà băng niêm yết lãi suất vượt 7,5%/năm, thậm chí chạm ngưỡng 8%/năm đối với các khoản tiền gửi lớn hoặc gửi trực tuyến, qua đó thiết lập mặt bằng lãi suất mới trên thị trường.
Khảo sát tại nhiều ngân hàng thương mại trong nước cho thấy, lãi suất tiền gửi được ấn định dao động từ 1,6 - 4,75%/năm cho kỳ hạn 1 tháng theo hình thức trả lãi cuối kỳ, áp dụng cho khách hàng cá nhân gửi tại quầy. Một số ngân hàng đang áp dụng mức lãi suất cạnh tranh 4,75%/năm cho kỳ hạn này như Bắc Á (đối với khoản tiền gửi trên 1 tỷ đồng), TPBank, VIB, VPBank, OCB, PVcomBank, BVBank và VCBNeo.
Đối với kỳ hạn 3 tháng, trả lãi cuối kỳ, các ngân hàng đang áp dụng mức lãi suất tiền gửi cho khách hàng cá nhân gửi tại quầy từ 1,9 - 4,75%/năm, trong đó nhiều ngân hàng đưa ra mức lãi suất cao nhất là 4,75%/năm.
Trong tháng 1/2026, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng tại các ngân hàng thương mại trong nước dao động từ 2,9 - 7%/năm, áp dụng cho khách hàng cá nhân gửi tại quầy, theo hình thức lĩnh lãi cuối kỳ. Hiện tại, mức lãi suất cao nhất cho khách hàng cá nhân ở kỳ hạn này được ghi nhận tại Ngân hàng Bắc Á, lên tới 7%/năm đối với khoản tiền gửi trên 1 tỷ đồng; với khoản tiền gửi dưới mức này, lãi suất áp dụng là 6,8%/năm.
Đến ngày 23/1/2026, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng ở một số ngân hàng đã được niêm yết trên 7%/năm, thuộc nhóm cao nhất thị trường hiện nay. Theo khảo sát, PGBank và MBV đang dẫn đầu thị trường về lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng, lên tới 7,2%/năm cho khách hàng cá nhân lĩnh lãi cuối kỳ, áp dụng với cả các khoản tiền gửi có giá trị nhỏ.
Theo báo cáo của NHNN, đến cuối tháng 12/2025, lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của các ngân hàng thương mại trong nước ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,8-4,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,7-5,9%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 5,0-6,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng và 6,8%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng.
Theo các chuyên gia, nhu cầu vốn tăng mạnh vào cuối năm là nguyên nhân chính khiến lãi suất huy động chịu áp lực trong thời gian qua và kéo dài đến tháng 1/2026. Bên cạnh đó, tăng trưởng huy động vốn thấp hơn tăng trưởng tín dụng cũng tạo áp lực thanh khoản tại các ngân hàng. Tính đến ngày 24/12/2025, tăng trưởng huy động vốn chỉ tăng khoảng 14,1%, thấp hơn đáng kể so với mức tăng trưởng tín dụng 17,87%.
Trong bối cảnh cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác như chứng khoán khởi sắc, giá vàng tăng kỷ lục… việc một số ngân hàng điều chỉnh lãi suất là cần thiết để bảo đảm thanh khoản hệ thống. Việc ngân hàng thu hút thêm tiền gửi còn nhằm đáp ứng nhu cầu tiền mặt tăng dịp cuối năm do các doanh nghiệp, công ty chi trả cho nhân viên, thanh toán các đơn hàng, đồng thời các cơ sở kinh doanh nhập thêm hàng hóa phục vụ người dân mua sắm và tiêu dùng dịp cận Tết Nguyên đán.
Tuy nhiên, xu hướng tăng lãi suất không phải là dài hạn, mà chủ yếu mang tính điều chỉnh theo chu kỳ khi cầu tín dụng tăng mạnh vào cuối năm. Một số chuyên gia cũng cho rằng mặt bằng lãi suất đang bước vào giai đoạn điều chỉnh mang tính chọn lọc sau thời gian dài duy trì ở mức thấp, phản ánh chu kỳ kinh tế mới với yêu cầu cao hơn về an toàn thanh khoản và cân đối nguồn vốn.
Áp lực lãi suất chỉ mang tính thời điểm
Lãi suất đầu vào tăng lên gây áp lực không nhỏ tới việc duy trì lãi suất cho vay ổn định. Tuy nhiên, nhìn từ tổng thể các yếu tố vĩ mô, giới phân tích cho rằng áp lực lãi suất chỉ mang tính thời điểm và có nhiều cơ sở để hạ nhiệt trong các quý tới, khi nhu cầu vốn không có sự đột biến và các yếu tố hỗ trợ thanh khoản sẽ dần phát huy tác dụng. Áp lực tăng lãi suất huy động hiện tại sẽ nằm trong tầm kiểm soát, do NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP 10% của Chính phủ trong năm 2026. Theo đó, mặt bằng lãi suất cho vay sẽ buộc phải duy trì ở mức hợp lý nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế .
Về phía các ngân hàng, khi lãi suất huy động tăng, lãi suất cho vay buộc phải điều chỉnh, khiến biên lãi ròng (NIM) thu hẹp. Trong bối cảnh này, nhiều ngân hàng cắt giảm chi phí hoạt động thông qua ứng dụng công nghệ, tinh giản nhân sự, đóng bớt phòng giao dịch, chi nhánh. Nhờ đó, các ngân hàng có thể chấp nhận NIM mỏng hơn nhưng vẫn đảm bảo lợi nhuận.
Về phía NHNN, trong năm 2025, bám sát chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, NHNN thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu giảm lãi suất cho vay.
Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục duy trì chào mua có kỳ hạn giấy tờ có giá hàng ngày thông qua nghiệp vụ thị trường mở với các kỳ hạn, khối lượng chào mua phù hợp; đồng thời triển khai công cụ giao dịch hoán đổi ngoại tệ với các tổ chức tín dụng, góp phần ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ và kinh tế vĩ mô. Kết quả, mặc dù lãi suất tiền gửi có dấu hiệu tăng nhẹ nhưng mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục có xu hướng ổn định. Đến ngày 30/11/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024.
Bước sang năm 2026, tình hình địa kinh tế, địa chính trị thế giới được dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. IMF (tháng 10/2025) dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2026 ở mức 3,1%, thấp xa so với mức tăng trưởng bình quân 3,7% trước đại dịch covid-19; cảnh báo kinh tế toàn cầu đối mặt với rủi ro giảm tốc. Lạm phát trong xu thế giảm nhưng thiếu chắc chắn. Triển vọng điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương khó dự báo, tiềm ẩn tác động đến thị trường quốc tế cũng như đồng tiền của các quốc gia mới nổi và đang phát triển, thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam. Giá cả hàng hóa thế giới biến động do tác động của diễn biến địa chính trị phức tạp, xu hướng gia tăng về bảo hộ thương mại, an ninh lương thực tại các quốc gia.
Trong nước, lạm phát tiềm ẩn áp lực tăng trong bối cảnh độ mở nền kinh tế Việt Nam rất lớn. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan; nhu cầu vốn tín dụng cho sản xuất kinh doanh, tiêu dùng dự kiến gia tăng, trong khi đó huy động vốn toàn hệ thống các tổ chức tín dụng có thể bị ảnh hưởng và cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác (như bất động sản, thị trường chứng khoán); sức ép cung ứng vốn cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng vẫn lớn trong bối cảnh thị trường tài chính phát triển chưa cân xứng...
Năm 2026 là năm có ý nghĩa quan trọng, diễn ra Đại hội lần thứ XIV của Đảng, là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030, bước vào kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.
Những yếu tố trên sẽ tác động nhất định đến điều hành chính sách tiền tệ của NHNN thời gian tới.
Tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 9/1/2026 về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2026, Thống đốc NHNN yêu cầu các đơn vị thuộc NHNN và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện tốt các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2026 nhằm góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, bảo đảm ổn định và an toàn hệ thống.
Theo đó, chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026 bình quân khoảng 4,5%, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững. Điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng. Dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh (tăng hoặc giảm) phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.
Thanh Thủy




